Tương Ưng Bộ · SN 35.95
Kinh Mālukyaputta
Mālukyaputtasutta — bài thứ hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ hai là bài dài nhất của Tương Ưng Sáu Xứ, và cũng là bài nổi tiếng nhất của phẩm này — nổi tiếng vì một câu duy nhất.
Trước hết là cái khung, và cái khung ấy có một chi tiết rất người.
Tôn giả Mālukyaputta đến xin pháp vắn tắt. Nhưng Ngài đã già — kinh ghi rõ: "đã già, đã lớn tuổi, đã cao niên, đã đi quá nửa đường đời, đã gần tuổi cuối".
Và Đức Thế Tôn bật lại:
Này Mālukyaputta, bây giờ ta nói gì với các tỳ-kheo trẻ? Khi mà ngươi — một người đã già — lại xin một lời khuyên vắn tắt?
Đây là một trong những chỗ hiếm hoi trong Tương Ưng mà Đức Thế Tôn nói với giọng trách nhẹ. Và câu trả lời của Mālukyaputta cũng rất người: "Dù con đã già, xin Ngài hãy giảng pháp vắn tắt cho con. Biết đâu con lại hiểu được."
Rồi Đức Thế Tôn hỏi một loạt sáu câu, và cả sáu đều cùng một khuôn:
Những sắc mà ngươi chưa thấy — nơi ấy ngươi có dục, có tham, có ái không?
Sáu lần Mālukyaputta trả lời: "không có".
Và đây là chỗ câu nổi tiếng xuất hiện:
Vậy thì này Mālukyaputta, nơi các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được biết, ngươi hãy để: cái thấy chỉ là cái thấy; cái nghe chỉ là cái nghe; cái cảm nhận chỉ là cái cảm nhận; cái biết chỉ là cái biết.
Bốn chữ trong Pali: diṭṭhe diṭṭhamattaṁ, sute sutamattaṁ, mute mutamattaṁ, viññāte viññātamattaṁ. Và chữ matta — chỉ là, vừa đủ — là chữ then chốt. Không phải "chỉ có cái thấy, không có ai thấy". Mà là: đừng thêm gì vào cái thấy.
Rồi bốn câu tiếp, và bốn câu ấy là một chuỗi rất chặt:
Khi ngươi để cái thấy chỉ là cái thấy, thì ngươi không là cái ấy. Khi ngươi không là cái ấy, thì ngươi không ở trong cái ấy. Khi ngươi không ở trong cái ấy, thì ngươi không ở đây, không ở kia, không ở giữa cả hai. Chính đây là chỗ tận cùng của khổ.
Rồi phần còn lại của bài — và nó chiếm hơn một nửa bài — là hai loạt kệ.
Loạt thứ nhất, sáu bài, mỗi bài nói về một cửa, và mỗi bài có cùng một cái kết: "chất chứa khổ như vậy, thì gọi là xa niết-bàn".
Loạt thứ hai, sáu bài, cùng sáu cửa, nhưng đổi một chữ: "hao mòn khổ như vậy, thì gọi là gần niết-bàn".
Hai loạt kệ ấy là một cặp gương. Loạt một: mất chánh niệm thì chất chứa. Loạt hai: có chánh niệm thì hao mòn. Cùng một cơ chế, hai chiều.
Và Mālukyaputta, sau khi nghe xong, đã thuật lại toàn bộ hai loạt kệ ấy cho Đức Thế Tôn — và được Ngài xác nhận: "Lành thay, lành thay."
Đó là lý do bài này dài: nó không chỉ dạy, nó ghi lại một người đã học xong.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Saḷa (Saḷavagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Mālukyaputta (Mālukyaputtasutta) — bài thứ hai.
"Rồi Tôn giả Mālukyaputta đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên.
Bạch Thế Tôn, lành thay, xin Ngài giảng cho con pháp một cách vắn tắt. Sau khi nghe pháp ấy, con sẽ sống một mình, xa lánh, không phóng dật, nhiệt tâm, quyết lòng.
Này Mālukyaputta, bây giờ ta nói gì với các tỳ-kheo trẻ?
Khi mà ngươi — một người đã già, đã lớn tuổi, đã cao niên, đã đi quá nửa đường đời, đã gần tuổi cuối — lại xin một lời khuyên vắn tắt?
Bạch Thế Tôn, dù con đã già, đã lớn tuổi, đã cao niên, đã đi quá nửa đường đời, đã gần tuổi cuối,
xin Ngài hãy giảng pháp vắn tắt cho con; xin Thiện Thệ hãy giảng pháp vắn tắt cho con. Biết đâu con lại hiểu được ý nghĩa lời Ngài dạy.
Này Mālukyaputta, ngươi nghĩ thế nào:
những sắc được nhãn thức biết đến, mà ngươi chưa thấy, chưa từng thấy, ngươi không thấy chúng, và chúng không có thể đến chỗ ngươi thấy — nơi ấy ngươi có dục, có tham, có ái không?
Bạch Thế Tôn, không có.
Những tiếng được nhĩ thức biết đến, mà ngươi chưa nghe, chưa từng nghe, ngươi không nghe chúng, và chúng không có thể đến chỗ ngươi nghe — nơi ấy ngươi có dục, có tham, có ái không?
Bạch Thế Tôn, không có.
Những mùi được tỷ thức biết đến, mà ngươi chưa ngửi, chưa từng ngửi, ngươi không ngửi chúng, và chúng không có thể đến chỗ ngươi ngửi — nơi ấy ngươi có dục, có tham, có ái không?
Bạch Thế Tôn, không có.
Những vị được thiệt thức biết đến, mà ngươi chưa nếm, chưa từng nếm, ngươi không nếm chúng, và chúng không có thể đến chỗ ngươi nếm — nơi ấy ngươi có dục, có tham, có ái không?
Bạch Thế Tôn, không có.
Những vật chạm được thân thức biết đến, mà ngươi chưa chạm, chưa từng chạm, ngươi không chạm chúng, và chúng không có thể đến chỗ ngươi chạm — nơi ấy ngươi có dục, có tham, có ái không?
Bạch Thế Tôn, không có.
Những pháp được ý thức biết đến, mà ngươi chưa biết, chưa từng biết, ngươi không biết chúng, và chúng không có thể đến chỗ ngươi biết — nơi ấy ngươi có dục, có tham, có ái không?
Bạch Thế Tôn, không có.
Vậy thì này Mālukyaputta, nơi các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được biết, ngươi hãy để: cái thấy chỉ là cái thấy; cái nghe chỉ là cái nghe; cái cảm nhận chỉ là cái cảm nhận; cái biết chỉ là cái biết.
Này Mālukyaputta, khi nào nơi các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được biết, ngươi để cái thấy chỉ là cái thấy, cái nghe chỉ là cái nghe, cái cảm nhận chỉ là cái cảm nhận, cái biết chỉ là cái biết,
thì này Mālukyaputta, ngươi sẽ không là cái ấy.
Này Mālukyaputta, khi ngươi không là cái ấy,
thì này Mālukyaputta, ngươi sẽ không ở trong cái ấy.
Này Mālukyaputta, khi ngươi không ở trong cái ấy,
thì này Mālukyaputta, ngươi sẽ không ở đây, không ở kia, không ở giữa cả hai.
Chính đây là chỗ tận cùng của khổ.
Bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa lời Ngài dạy vắn tắt ấy như vầy:
Thấy một sắc mà mất chánh niệm,
chú tâm vào tướng dễ chịu,
với tâm say đắm thì cảm thọ,
và bám vào đó mà đứng.
Các cảm thọ nơi vị ấy tăng lên,
nhiều thứ sinh từ sắc;
tham và não hại,
tâm vị ấy bị hư hại;
chất chứa khổ như vậy,
thì gọi là xa niết-bàn.
Nghe một tiếng mà mất chánh niệm,
chú tâm vào tướng dễ chịu,
với tâm say đắm thì cảm thọ,
và bám vào đó mà đứng.
Các cảm thọ nơi vị ấy tăng lên,
nhiều thứ sinh từ tiếng;
tham và não hại,
tâm vị ấy bị hư hại;
chất chứa khổ như vậy,
thì gọi là xa niết-bàn.
Ngửi một mùi mà mất chánh niệm,
chú tâm vào tướng dễ chịu,
với tâm say đắm thì cảm thọ,
và bám vào đó mà đứng.
Các cảm thọ nơi vị ấy tăng lên,
nhiều thứ sinh từ mùi;
tham và não hại,
tâm vị ấy bị hư hại;
chất chứa khổ như vậy,
thì gọi là xa niết-bàn.
Nếm một vị mà mất chánh niệm,
chú tâm vào tướng dễ chịu,
với tâm say đắm thì cảm thọ,
và bám vào đó mà đứng.
Các cảm thọ nơi vị ấy tăng lên,
nhiều thứ sinh từ vị;
tham và não hại,
tâm vị ấy bị hư hại;
chất chứa khổ như vậy,
thì gọi là xa niết-bàn.
Chạm một vật mà mất chánh niệm,
chú tâm vào tướng dễ chịu,
với tâm say đắm thì cảm thọ,
và bám vào đó mà đứng.
Các cảm thọ nơi vị ấy tăng lên,
nhiều thứ sinh từ xúc;
tham và não hại,
tâm vị ấy bị hư hại;
chất chứa khổ như vậy,
thì gọi là xa niết-bàn.
Biết một pháp mà mất chánh niệm,
chú tâm vào tướng dễ chịu,
với tâm say đắm thì cảm thọ,
và bám vào đó mà đứng.
Các cảm thọ nơi vị ấy tăng lên,
nhiều thứ sinh từ pháp;
tham và não hại,
tâm vị ấy bị hư hại;
chất chứa khổ như vậy,
thì gọi là xa niết-bàn.
Vị ấy không tham nơi các sắc,
thấy sắc với chánh niệm;
với tâm ly tham thì cảm thọ,
và không bám vào đó mà đứng.
Như vị ấy thấy sắc,
và thọ cảm thọ,
thì hao mòn chứ không chất chứa,
vị ấy đi như vậy với chánh niệm;
hao mòn khổ như vậy,
thì gọi là gần niết-bàn.
Vị ấy không tham nơi các tiếng,
nghe tiếng với chánh niệm;
với tâm ly tham thì cảm thọ,
và không bám vào đó mà đứng.
Như vị ấy nghe tiếng,
và thọ cảm thọ,
thì hao mòn chứ không chất chứa,
vị ấy đi như vậy với chánh niệm;
hao mòn khổ như vậy,
thì gọi là gần niết-bàn.
Vị ấy không tham nơi các mùi,
ngửi mùi với chánh niệm;
với tâm ly tham thì cảm thọ,
và không bám vào đó mà đứng.
Như vị ấy ngửi mùi,
và thọ cảm thọ,
thì hao mòn chứ không chất chứa,
vị ấy đi như vậy với chánh niệm;
hao mòn khổ như vậy,
thì gọi là gần niết-bàn.
Vị ấy không tham nơi các vị,
nếm vị với chánh niệm;
với tâm ly tham thì cảm thọ,
và không bám vào đó mà đứng.
Như vị ấy nếm vị,
và thọ cảm thọ,
thì hao mòn chứ không chất chứa,
vị ấy đi như vậy với chánh niệm;
hao mòn khổ như vậy,
thì gọi là gần niết-bàn.
Vị ấy không tham nơi các xúc,
chạm xúc với chánh niệm;
với tâm ly tham thì cảm thọ,
và không bám vào đó mà đứng.
Như vị ấy chạm xúc,
và thọ cảm thọ,
thì hao mòn chứ không chất chứa,
vị ấy đi như vậy với chánh niệm;
hao mòn khổ như vậy,
thì gọi là gần niết-bàn.
Vị ấy không tham nơi các pháp,
biết pháp với chánh niệm;
với tâm ly tham thì cảm thọ,
và không bám vào đó mà đứng.
Như vị ấy biết pháp,
và thọ cảm thọ,
thì hao mòn chứ không chất chứa,
vị ấy đi như vậy với chánh niệm;
hao mòn khổ như vậy,
thì gọi là gần niết-bàn.
Bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa lời Ngài dạy vắn tắt ấy một cách rộng rãi như vậy.
Lành thay, lành thay, này Mālukyaputta.
Lành thay, này Mālukyaputta, ngươi hiểu ý nghĩa lời Ta dạy vắn tắt ấy một cách rộng rãi như vậy:
Thấy một sắc mà mất chánh niệm,
chú tâm vào tướng dễ chịu,
với tâm say đắm thì cảm thọ,
và bám vào đó mà đứng.
Các cảm thọ nơi vị ấy tăng lên,
nhiều thứ sinh từ sắc;
tham và não hại,
tâm vị ấy bị hư hại;
chất chứa khổ như vậy,
thì gọi là xa niết-bàn.
Cũng vậy với tiếng, mùi, vị, xúc, pháp — với mỗi thứ, bài kệ đều theo đúng khuôn ấy.
Vị ấy không tham nơi các pháp,
biết pháp với chánh niệm;
với tâm ly tham thì cảm thọ,
và không bám vào đó mà đứng.
Như vị ấy biết pháp,
và thọ cảm thọ,
thì hao mòn chứ không chất chứa,
vị ấy đi như vậy với chánh niệm;
hao mòn khổ như vậy,
thì gọi là gần niết-bàn.
Này Mālukyaputta, ý nghĩa lời Ta dạy vắn tắt ấy phải được thấy một cách rộng rãi như vậy.
Rồi Tôn giả Mālukyaputta hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy, đứng dậy, đảnh lễ Ngài, đi nhiễu bên phải rồi ra đi.
Rồi Tôn giả Mālukyaputta sống một mình, xa lánh, không phóng dật, nhiệt tâm, quyết lòng. Chẳng bao lâu, ngay trong đời này, tự mình chứng ngộ và an trú nơi mục đích mà các thiện nam tử đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không nhà để đạt tới.
'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa.' Vị ấy biết như vậy.
Và Tôn giả Mālukyaputta đã trở thành một trong các bậc a-la-hán."
Bài thứ hai.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.