Tương Ưng Bộ · SN 42.010
Kinh Maṇicūḷa
Maṇicūḷakasutta — bài thứ mười
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Maṇicūḷakasutta — Kinh Maṇicūḷa
Bài này có một bối cảnh chính trị rất rõ, và nó là bài duy nhất trong Tương Ưng bàn thẳng về tiền.
Tại Rājagaha, trong nội cung, triều thần đang bàn tán: "Các sa-môn Thích tử có được phép dùng vàng bạc không? Họ có nhận vàng bạc không?" Maṇicūḷa, một trưởng thôn đang ngồi trong hội chúng ấy, đứng lên phản đối: "Các ngài chớ nói vậy. Các sa-môn Thích tử không được phép dùng vàng bạc, không nhận vàng bạc — họ đã từ bỏ ngọc và vàng, đã lìa xa vàng bạc."
Rồi ông đến hỏi Đức Thế Tôn xem mình nói như vậy có đúng lời Ngài không. Và Đức Thế Tôn xác nhận: đúng.
Câu trả lời của Đức Thế Tôn có một lập luận rất gọn mà cần đọc kỹ. Ngài nói: với ai mà vàng bạc được phép, thì năm dục lạc cũng được phép với người ấy; với ai mà năm dục lạc được phép, thì hãy giữ chắc rằng người ấy không phải là sa-môn, không phải là đệ tử Thích tử.
Này trưởng thôn, ta nói như vầy: cỏ thì nên tìm cỏ, cây thì nên tìm cây, xe thì nên tìm xe, người thì nên tìm người. Nhưng ta không nói rằng có bất cứ cách nào để dùng vàng bạc.
Đoạn này thường bị trích dẫn như một điều luật. Nhưng cấu trúc của nó là một suy luận: vàng bạc không phải một vật trung tính bị cấm, mà là cánh cửa dẫn vào năm dục lạc. Cấm nó không phải vì nó bẩn, mà vì nó mở ra một chuỗi.
Điều đáng chú ý cuối cùng: bài kinh không nói người tại gia không được dùng tiền. Người trả lời câu hỏi ấy là một trưởng thôn, và người xác nhận là Đức Thế Tôn — cả hai đều nói về sa-môn Thích tử, không nói về toàn xã hội. Đây là một giới luật của người xuất gia, và nó được bảo vệ bằng một lập luận triết học, không chỉ bằng một quy định.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Gāmaṇi (Gāmaṇisaṃyutta), tương ưng thứ 42.
Phẩm Gāmaṇi (Gāmaṇivagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Gāmaṇi.
Kinh Maṇicūḷa (Maṇicūḷakasutta) — bài thứ mười.
"Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại rừng Trúc, chỗ nuôi dưỡng chim công.
Lúc bấy giờ, trong nội cung của vua, nơi hội chúng của vua đang ngồi tụ họp, câu chuyện này khởi lên:
Các sa-môn dòng Thích-ca có được phép dùng vàng bạc không? Các sa-môn dòng Thích-ca có nhận vàng bạc không? Các sa-môn dòng Thích-ca có thọ nhận vàng bạc không**?
Lúc bấy giờ, ông trưởng thôn Maṇicūḷaka đang ngồi trong hội chúng ấy.
Rồi, ông trưởng thôn Maṇicūḷaka nói với hội chúng ấy rằng:
Thưa các ngài, chớ nói như vậy.
Các sa-môn dòng Thích-ca không được phép dùng vàng bạc, các sa-môn dòng Thích-ca không nhận vàng bạc, các sa-môn dòng Thích-ca không thọ nhận vàng bạc. Các sa-môn dòng Thích-ca đã từ bỏ ngọc và vàng, đã lìa xa vàng bạc.
Ông trưởng thôn Maṇicūḷaka đã có thể làm cho hội chúng ấy hiểu ra.
Rồi, ông trưởng thôn Maṇicūḷaka đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, ngồi xuống một bên.
Ông trưởng thôn Maṇicūḷaka đang ngồi một bên, nói với Đức Thế Tôn rằng: Bạch Thế Tôn, ở đây trong nội cung của vua, nơi hội chúng của vua đang ngồi tụ họp, câu chuyện này khởi lên:
Các sa-môn dòng Thích-ca có được phép dùng vàng bạc không? Các sa-môn dòng Thích-ca có nhận vàng bạc không? Các sa-môn dòng Thích-ca có thọ nhận vàng bạc không**?
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với hội chúng ấy rằng:
Thưa các ngài, chớ nói như vậy.
Các sa-môn dòng Thích-ca không được phép dùng vàng bạc, các sa-môn dòng Thích-ca không nhận vàng bạc, các sa-môn dòng Thích-ca không thọ nhận vàng bạc. Các sa-môn dòng Thích-ca đã từ bỏ ngọc và vàng, đã lìa xa vàng bạc.
Bạch Thế Tôn, con đã có thể làm cho hội chúng ấy hiểu ra.
Bạch Thế Tôn, khi con trả lời như vậy, con có phải là người nói đúng lời Đức Thế Tôn không, không xuyên tạc Đức Thế Tôn bằng điều không thật không, trả lời đúng pháp và thuận pháp không, và không có ai có lý do đúng pháp để chê trách con không?
Này trưởng thôn, quả thật khi ông trả lời như vậy, ông là người nói đúng lời ta, không xuyên tạc ta bằng điều không thật, trả lời đúng pháp và thuận pháp, và không có ai có lý do đúng pháp để chê trách ông.
Này trưởng thôn, các sa-môn dòng Thích-ca quả thật không được phép dùng vàng bạc, không nhận vàng bạc, không thọ nhận vàng bạc. Các sa-môn dòng Thích-ca đã từ bỏ ngọc và vàng, đã lìa xa vàng bạc.
Này trưởng thôn, với người nào vàng bạc được phép dùng, thì năm dục công đức cũng được phép dùng với người ấy.
Này trưởng thôn, khi năm dục công đức được phép dùng, ông hãy nắm chắc điều này: ấy là pháp của kẻ không phải sa-môn, pháp của kẻ không phải dòng Thích-ca.
Nhưng này trưởng thôn, ta nói như vầy:
Cỏ thì người cần cỏ hãy đi tìm cỏ; củi thì người cần củi hãy đi tìm củi; xe thì người cần xe hãy đi tìm xe; người thì người cần người hãy đi tìm người.
Nhưng này trưởng thôn, ta không nói, bằng bất cứ cách nào, rằng vàng bạc được phép nhận, được phép tìm cầu."
Bài thứ mười.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.