buppou

Tương Ưng Bộ · SN 51.62

Kinh Mây (I)

Paṭhamameghasutta — bài thứ sáu mươi hai

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài này thuộc phẩm Những Việc Cần Đến Sức Mạnh — mười hai bài, mỗi bài mở bằng một hình ảnh về một thứ đứng trên đất rồi mới làm được việc của nó.

Này các tỳ-kheo, một cơn mây lớn đứng giữa hư không, và nhờ vậy mưa tuôn xuống khắp bốn phương.

Một điều dễ bỏ qua: kinh không hứa rằng ai tu tập bốn thần túc cũng có thần thông. Kinh chỉ nói rằng những ai có thần thông đều đã đi qua đây. Chiều ngược lại không được nói tới.

Bài này đảo chiều như bài 28: Đức Thế Tôn hỏi các tỳ-kheo, các tỳ-kheo thưa lấy Ngài làm gốc, rồi Ngài trả lời. Chỉ khác bài 28 ở chỗ người nghe là số nhiều.

Bài này không cần thêm gì. Nó đã nói đủ điều nó muốn nói.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Thần Túc (Iddhipādasaṃyutta), tương ưng thứ 51.

Phẩm Thứ Sáu (Balakaraṇīyavagga) — phẩm thứ sáu của Tương Ưng Thần Túc.

Kinh Mây (I) (Paṭhamameghasutta) — bài thứ sáu mươi hai.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, một cơn mây lớn đứng giữa hư không, và nhờ vậy mưa tuôn xuống khắp bốn phương.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu tập bốn thần túc, thực hành nhiều bốn thần túc.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu tập bốn thần túc, thực hành nhiều bốn thần túc?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập thần túc có định nhờ ước muốn, cùng với các hành tinh cần,

vị ấy tu tập thần túc có định nhờ tinh tấn, cùng với các hành tinh cần,

vị ấy tu tập thần túc có định nhờ tâm, cùng với các hành tinh cần,

vị ấy tu tập thần túc có định nhờ quán sát, cùng với các hành tinh cần.

Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu tập bốn thần túc, thực hành nhiều bốn thần túc."

Bài thứ sáu mươi hai.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →