buppou

Tương Ưng Bộ · SN 51.63

Kinh Mây (II)

Dutiyameghasutta — bài thứ sáu mươi ba

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài này thuộc phẩm Những Việc Cần Đến Sức Mạnh — mười hai bài, mỗi bài mở bằng một hình ảnh về một thứ đứng trên đất rồi mới làm được việc của nó.

Này các tỳ-kheo, một cơn mây lớn thứ hai đứng giữa hư không, và nhờ vậy mưa tuôn xuống khắp bốn phương.

Chữ iddhi trong tiếng Pali nghĩa hẹp là thần thông, nghĩa rộng là sự thành tựu. Cả hai nghĩa đều có mặt trong tương ưng này, và chỗ nào dùng nghĩa nào thì phải tự đọc mà phân biệt.

Bài này quay lại với Tôn giả Moggallāna, và là bài duy nhất trong tương ưng nói về một đệ tử cụ thể có thần lực lớn. Đức Thế Tôn hỏi các tỳ-kheo: nhờ đâu mà Moggallāna như vậy? Rồi Ngài tự trả lời.

Đọc xong, điều còn lại không phải một ý niệm mà một hướng.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Thần Túc (Iddhipādasaṃyutta), tương ưng thứ 51.

Phẩm Thứ Sáu (Balakaraṇīyavagga) — phẩm thứ sáu của Tương Ưng Thần Túc.

Kinh Mây (II) (Dutiyameghasutta) — bài thứ sáu mươi ba.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, một cơn mây lớn thứ hai đứng giữa hư không, và nhờ vậy mưa tuôn xuống khắp bốn phương.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu tập bốn thần túc, thực hành nhiều bốn thần túc.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu tập bốn thần túc, thực hành nhiều bốn thần túc?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập thần túc có định nhờ ước muốn, cùng với các hành tinh cần,

vị ấy tu tập thần túc có định nhờ tinh tấn, cùng với các hành tinh cần,

vị ấy tu tập thần túc có định nhờ tâm, cùng với các hành tinh cần,

vị ấy tu tập thần túc có định nhờ quán sát, cùng với các hành tinh cần.

Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu tập bốn thần túc, thực hành nhiều bốn thần túc."

Bài thứ sáu mươi ba.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →