buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.114

Kinh Minh

Vijjāsutta — bài thứ hai

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Minh (Vijjāsutta) là tấm gương của bài trước, nhưng đổi một chữ: "vô minh" thành "minh", "người phàm phu không học" thành "vị thánh đệ tử đã học".

Bạch Thế Tôn, người ta nói "minh". Minh là gì? Và thế nào được gọi là người có minh? — Này tỳ-kheo, đó là khi vị thánh đệ tử đã học hiểu sắc, sự sinh khởi của sắc, sự chấm dứt của sắc, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của sắc — và cũng vậy với thọ, tưởng, các hành, thức. Đó được gọi là minh.

Chỉ có một khác biệt: chữ "không" bị bỏ đi. Và đó chính là toàn bộ sự khác biệt giữa vô minh và minh — không phải hai loại kiến thức, mà là cùng một cái được thấy, hoặc không được thấy.

Phẩm này bắt đầu bằng hai bài đặt cạnh nhau như vậy, để người đọc thấy: minh và vô minh cách nhau một chữ.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm Người Thuyết Pháp (Dhammakathikavagga) — phẩm thứ bảy của Tương Ưng Uẩn.

Kinh Minh (Vijjāsutta) — bài thứ hai.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.

Bấy giờ một tỳ-kheo ngồi xuống một bên và bạch Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, người ta nói 'minh'.

Minh là gì?

Và thế nào được gọi là người có minh?"

"Này tỳ-kheo, đó là khi vị thánh đệ tử đã học hiểu sắc, hiểu sự sinh khởi của sắc, hiểu sự chấm dứt của sắc, hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của sắc.

Hiểu thọ, sự sinh khởi của thọ, sự chấm dứt của thọ, con đường dẫn đến sự chấm dứt của thọ.

Hiểu tưởng, sự sinh khởi của tưởng, sự chấm dứt của tưởng, con đường dẫn đến sự chấm dứt của tưởng.

Hiểu các hành, sự sinh khởi của các hành, sự chấm dứt của các hành, con đường dẫn đến sự chấm dứt của các hành.

Hiểu thức, sự sinh khởi của thức, sự chấm dứt của thức, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của thức.

Đó được gọi là minh.

Và đó là cách được gọi là người có minh."

Kinh Minh, bài thứ hai, đến đây là lúc hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →