buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.115

Kinh Người Thuyết Pháp

Dhammakathikasutta — bài thứ ba

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Người Thuyết Pháp (Dhammakathikasutta) đặt một tiêu chuẩn mà nhiều người thuyết pháp không thích nghe.

Bạch Thế Tôn, người ta nói "người thuyết pháp". Thế nào được gọi là người thuyết pháp?

Và Đức Thế Tôn trả lời bằng ba tầng, với mỗi uẩn:

Nếu một tỳ-kheo thuyết pháp để đưa đến nhàm chán, ly tham và chấm dứt đối với sắc — vị ấy xứng đáng được gọi là "người thuyết pháp". Nếu vị ấy thực hành để đưa đến nhàm chán, ly tham và chấm dứt đối với sắc — vị ấy xứng đáng được gọi là "người thực hành đúng pháp". Nếu vị ấy được giải thoát nhờ không chấp thủ bằng sự nhàm chán, ly tham và chấm dứt ấy — vị ấy xứng đáng được gọi là "người đã chứng đạt Niết-bàn ngay trong đời này".

Ba tầng ấy là nói, làm, và thành. Và tiêu chuẩn không phải là nói hay, mà là nói để người nghe bớt tham — kể cả khi người nói chưa bớt tham.

Đó là một tiêu chuẩn khó, nhưng nó cho thấy Đức Thế Tôn coi trọng công dụng của lời nói hơn sự hoàn hảo của người nói.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm Người Thuyết Pháp (Dhammakathikavagga) — phẩm thứ bảy của Tương Ưng Uẩn.

Kinh Người Thuyết Pháp (Dhammakathikasutta) — bài thứ ba.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.

Bấy giờ một tỳ-kheo ngồi xuống một bên và bạch Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, người ta nói 'người thuyết pháp'.

Thế nào được gọi là người thuyết pháp?"

"Này tỳ-kheo, nếu một tỳ-kheo thuyết pháp để đưa đến nhàm chán, ly tham và chấm dứt đối với sắc, thì vị ấy xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thuyết pháp'.

Nếu vị ấy thực hành để đưa đến nhàm chán, ly tham và chấm dứt đối với sắc, thì vị ấy xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thực hành đúng pháp'.

Nếu vị ấy được giải thoát nhờ không chấp thủ bằng sự nhàm chán, ly tham và chấm dứt đối với sắc, thì vị ấy xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo đã chứng đạt Niết-bàn ngay trong đời này'.

Nếu một tỳ-kheo thuyết pháp để đưa đến nhàm chán, ly tham và chấm dứt đối với thọ,

tưởng,

các hành,

thức, thì vị ấy xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thuyết pháp'.

Nếu vị ấy thực hành để đưa đến nhàm chán, ly tham và chấm dứt đối với thức, thì vị ấy xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thực hành đúng pháp'.

Nếu vị ấy được giải thoát nhờ không chấp thủ bằng sự nhàm chán, ly tham và chấm dứt đối với thức, thì vị ấy xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo đã chứng đạt Niết-bàn ngay trong đời này'."

Kinh Người Thuyết Pháp, bài thứ ba, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →