buppou

Tương Ưng Bộ · SN 56.18

Kinh Minh

Vijjāsutta — bài kinh về minh

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Minh (Vijjāsutta) là bài thứ tám của Tương Ưng Tứ Đế — cặp sinh đôi của bài trước, và là câu trả lời lật ngược.

Vị tỳ-kheo cũng hỏi: "Minh, minh — người ta nói như vậy. Minh là gì, và thế nào là người đã có minh?" Đức Thế Tôn cũng trả lời bằng đúng bốn đối tượng ấy, chỉ đổi một chữ: biết thay vì không biết.

Có một chỗ nhỏ đáng để ý trong bản Pali. Ở bài trước, chữ dùng là aññāṇa — "không biết", một phủ định. Ở bài này là ñāṇa — "cái biết". Hai chữ chỉ khác nhau một tiền tố, và cả hai đều không phải là thứ gì cao siêu: chúng nằm sát nhau, cách nhau đúng một câu hỏi.

Đọc hai bài liền, người ta thấy bốn sự thật không phải một đề tài để tin hay không tin, mà là một bộ bốn câu hỏi ai cũng có thể trả lời đúng hoặc sai. Vô minh là trả lời sai. Minh là trả lời đúng. Không có bậc thang nào khác ở giữa.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Tứ Đế (Saccasaṃyutta), tương ưng thứ 56.

Phẩm Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattanavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Tứ Đế.

Kinh Minh (Vijjāsutta) — bài thứ tám.


Rồi một vị tỳ-kheo đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn, ngồi sang một bên. Vị tỳ-kheo ấy ngồi sang một bên, bạch Đức Thế Tôn:

"'Minh, minh', bạch Thế Tôn, người ta nói như vậy.

Bạch Thế Tôn, minh là gì;

và thế nào là người đã có minh?"

"Này tỳ-kheo, chính là biết về khổ, biết về nguồn gốc của khổ, biết về sự chấm dứt của khổ, biết về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ—

này tỳ-kheo, đây gọi là minh;

và đến mức ấy thì gọi là người đã có minh."

Vậy nên, này tỳ-kheo, hãy nỗ lực để biết như thật: 'Đây là khổ'; hãy nỗ lực để biết như thật: 'Đây là nguồn gốc của khổ'; hãy nỗ lực để biết như thật: 'Đây là sự chấm dứt của khổ'; hãy nỗ lực để biết như thật: 'Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ'."

Kinh Minh, bài thứ tám, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →