Tương Ưng Bộ · SN 56.17
Kinh Vô Minh
Avijjāsutta — bài kinh về vô minh
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Vô Minh (Avijjāsutta) là bài thứ bảy của Tương Ưng Tứ Đế, một cuộc hỏi đáp ngắn giữa một vị tỳ-kheo và Đức Thế Tôn.
Câu hỏi rất đơn giản: "Vô minh, vô minh — người ta nói như vậy. Vô minh là gì, và thế nào là người đã rơi vào vô minh?"
Điều đáng chú ý là câu trả lời không định nghĩa vô minh như một thứ gì đó có mặt. Nó định nghĩa bằng cách vắng mặt: không biết bốn sự thật. Không có chữ "si mê", không có "tối tăm", không có "vô minh là một gốc rễ". Chỉ có bốn chỗ trống.
Nói cách khác, vô minh ở đây không phải một tình trạng tâm lý mà là một món nợ kiến thức: bốn câu chưa biết. Và cách chữa cũng vì thế mà cụ thể — không phải xua tan bóng tối, mà là trả từng món một.
Bài tiếp theo (Kinh Minh, SN 56.18) là câu trả lời lật ngược: đổi "không biết" thành "biết", cùng bốn đối tượng ấy.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Tứ Đế (Saccasaṃyutta), tương ưng thứ 56.
Phẩm Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattanavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Tứ Đế.
Kinh Vô Minh (Avijjāsutta) — bài thứ bảy.
Vị tỳ-kheo ấy ngồi sang một bên, bạch Đức Thế Tôn:
"'Vô minh, vô minh', bạch Thế Tôn, người ta nói như vậy.
Bạch Thế Tôn, vô minh là gì;
và thế nào là người đã rơi vào vô minh?"
"Này tỳ-kheo, chính là không biết về khổ, không biết về nguồn gốc của khổ, không biết về sự chấm dứt của khổ, không biết về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ—
này tỳ-kheo, đây gọi là vô minh;
và đến mức ấy thì gọi là người đã rơi vào vô minh."
Vậy nên, này tỳ-kheo, hãy nỗ lực để biết như thật: 'Đây là khổ'; hãy nỗ lực để biết như thật: 'Đây là nguồn gốc của khổ'; hãy nỗ lực để biết như thật: 'Đây là sự chấm dứt của khổ'; hãy nỗ lực để biết như thật: 'Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ'."
Kinh Vô Minh, bài thứ bảy, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.