Tương Ưng Bộ · SN 46.29
Kinh Một Pháp
Ekadhammasutta — bài thứ hai mươi chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Từ đây, tương ưng bắt đầu đi vào những định nghĩa.
Một pháp được tu tập nhiều thì đưa đến sự sinh khởi của bảy giác chi.
Cái được nhấn mạnh không phải là kết quả, mà là thứ tự: cái gì có trước, cái gì có sau.
Bài này tên là Kinh Một Pháp. Đây là bài thứ hai mươi chín trong một trăm tám mươi bốn bài của tương ưng, nằm ở Phẩm Udāyī.
Đây là một trong những bài có thể đọc lại nhiều lần mà vẫn còn chỗ để dừng.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.
Phẩm Udāyī (Udāyivagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Giác Chi.
Kinh Một Pháp (Ekadhammasutta) — bài thứ hai mươi chín.
"Này các tỳ-kheo, ta không thấy một pháp nào khác được tu tập như vậy, được thực hành nhiều như vậy mà đưa đến sự đoạn trừ các pháp thuộc phần kiết sử, ngoài bảy giác chi này.
Bảy ấy là gì?
niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi.
Và này các tỳ-kheo, bảy giác chi được tu tập thế nào, được thực hành nhiều thế nào thì đưa đến sự đoạn trừ các pháp thuộc phần kiết sử?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập trạch pháp giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập tinh tấn giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập hỷ giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập khinh an giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập định giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ;
tu tập xả giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.
Như vậy, này các tỳ-kheo, bảy giác chi được tu tập như vậy, được thực hành nhiều như vậy thì đưa đến sự đoạn trừ các pháp thuộc phần kiết sử.
Và này các tỳ-kheo, những pháp nào thuộc phần kiết sử?
Này các tỳ-kheo, mắt là pháp thuộc phần kiết sử.
Ở đây, những kiết sử trói buộc và bám giữ ấy sinh khởi.
Này các tỳ-kheo, lưỡi là pháp thuộc phần kiết sử.
Ở đây, những kiết sử trói buộc và bám giữ ấy sinh khởi.
Này các tỳ-kheo, ý là pháp thuộc phần kiết sử.
Ở đây, những kiết sử trói buộc và bám giữ ấy sinh khởi.
Này các tỳ-kheo, đây được gọi là những pháp thuộc phần kiết sử."
Bài thứ hai mươi chín.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.