Tương Ưng Bộ · SN 12.21
Kinh Mười Lực
Dasabalasutta — bài thứ nhất
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Mười Lực (Dasabalasutta) mở phẩm mới bằng một hình ảnh rất mạnh: con bò đực và tiếng rống sư tử.
Này các tỳ-kheo, Như Lai có đủ mười lực và bốn chỗ không sợ hãi. Nhờ vậy Ngài nhận chỗ của con bò đực, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe phạm.
Đó là ngôn ngữ của một vị vua tuyên bố chủ quyền — và bộ kinh dùng nó cho một việc khác hẳn: nói ra cấu trúc của thực tại mà không sợ bị phản bác.
Rồi Ngài nói nội dung của tiếng rống ấy, và nó không hề hoành tráng:
Sắc là như vậy, sự sinh khởi của sắc là như vậy, sự chấm dứt của sắc là như vậy. Thọ là như vậy, sự sinh khởi của thọ là như vậy, sự chấm dứt của thọ là như vậy. Tưởng là như vậy, sự sinh khởi của tưởng là như vậy, sự chấm dứt của tưởng là như vậy. Các hành là như vậy, sự sinh khởi của các hành là như vậy, sự chấm dứt của các hành là như vậy. Thức là như vậy, sự sinh khởi của thức là như vậy, sự chấm dứt của thức là như vậy.
Năm uẩn, ba mặt mỗi uẩn. Rồi đến câu quan trọng nhất, câu mà cả bộ Tương Ưng Nhân Duyên quay quanh:
Khi cái này có mặt thì cái kia có mặt; do cái này sinh khởi mà cái kia sinh khởi. Khi cái này không có mặt thì cái kia không có mặt; do cái này chấm dứt mà cái kia chấm dứt.
Đó là công thức duy nhất của toàn bộ giáo lý — imasmiṁ sati idaṁ hoti. Đức Thế Tôn không nói "cái này tạo ra cái kia". Ngài nói "cái này có mặt thì cái kia có mặt" — một quan hệ đồng thời, không phải một quan hệ nhân quả theo nghĩa thông thường.
Và tiếng rống sư tử ấy, khi nghe kỹ, chỉ là một câu nói về điều kiện. Không có phép lạ. Không có quyền năng. Chỉ có một cấu trúc mà ai nhìn đủ kỹ cũng thấy — và thấy được thì không còn gì để sợ.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.
Phẩm Mười Lực (Dasabalavagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Nhân Duyên.
Kinh Mười Lực (Dasabalasutta) — bài thứ nhất.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
"Này các tỳ-kheo, Như Lai có đủ mười lực và bốn chỗ không sợ hãi. Nhờ vậy Ngài nhận chỗ của con bò đực, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe phạm:
'Sắc là như vậy, sự sinh khởi của sắc là như vậy, sự chấm dứt của sắc là như vậy.
Thọ là như vậy, sự sinh khởi của thọ là như vậy, sự chấm dứt của thọ là như vậy.
Tưởng là như vậy, sự sinh khởi của tưởng là như vậy, sự chấm dứt của tưởng là như vậy.
Các hành là như vậy, sự sinh khởi của các hành là như vậy, sự chấm dứt của các hành là như vậy.
Thức là như vậy, sự sinh khởi của thức là như vậy, sự chấm dứt của thức là như vậy.
Khi cái này có mặt thì cái kia có mặt; do cái này sinh khởi mà cái kia sinh khởi.
Khi cái này không có mặt thì cái kia không có mặt; do cái này chấm dứt mà cái kia chấm dứt. Đó là:
vô minh duyên hành;
hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sinh; sinh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi.
Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khối khổ này.
Do sự ly tham và chấm dứt vô minh không còn dư tàn, hành chấm dứt;
hành chấm dứt nên thức chấm dứt; thức chấm dứt nên danh sắc chấm dứt; danh sắc chấm dứt nên sáu xứ chấm dứt; sáu xứ chấm dứt nên xúc chấm dứt; xúc chấm dứt nên thọ chấm dứt; thọ chấm dứt nên ái chấm dứt; ái chấm dứt nên thủ chấm dứt; thủ chấm dứt nên hữu chấm dứt; hữu chấm dứt nên sinh chấm dứt; sinh chấm dứt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt.
Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này."
Kinh Mười Lực, bài thứ nhất, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.