Tương Ưng Bộ · SN 35.117
Kinh Năm Dục Công Đức
Kāmaguṇasutta — bài thứ bốn
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ tư có cùng cấu trúc với bài 116 — nêu câu, đi vào tịnh thất, Ānanda giải — nhưng nội dung thì hoàn toàn khác, và nó mở bằng một chuyện trước khi giác ngộ.
Này các tỳ-kheo, trước khi giác ngộ, khi còn là Bồ-tát, chưa chứng giác ngộ, Ta đã nghĩ thế này: "Những năm dục công đức này đã từng được tâm Ta chạm tới — nay đã qua rồi, đã chấm dứt, đã biến đổi; và tâm Ta vẫn thường hướng tới chúng, vẫn đi theo chúng."
Đây là một trong rất ít chỗ Đức Thế Tôn kể về chính mình trước khi giác ngộ trong Tương Ưng Sáu Xứ. Và điều Ngài kể không phải một cuộc đấu tranh dữ dội — mà là một sự còn vương.
Rồi Ngài nói: "Ta hãy sống với tâm riêng của mình, với không phóng dật, với chánh niệm."
Và câu ấy — sống với tâm riêng của mình — là một trong những câu cô đọng nhất của cả bộ kinh.
Rồi phần chính: xứ ấy phải được biết — chỗ mà con mắt chấm dứt và tưởng về sắc chấm dứt.
Chữ nirodha — chấm dứt — ở đây không phải "diệt". Nó là chỗ mà cái ấy không còn.
Và cách Ānanda giải câu ấy rất gọn: "sự chấm dứt của sáu xứ — đấy là điều Đức Thế Tôn nói tới."
Bài này lặp lại gần như nguyên văn toàn bộ khung của bài 116 — kể cả đoạn Ānanda từ chối trả lời và ví dụ cây có lõi. Điều ấy cho thấy một điều về cách kinh được truyền: khung là thứ dùng lại được, và cái thay đổi là nội dung câu đố.
Và sự thay đổi ấy rất lớn: bài 116 hỏi thế giới ở đâu; bài 117 hỏi cái gì chấm dứt. Cùng một chỗ, hai câu hỏi.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Dục Công Đức Của Thế Giới (Lokakāmaguṇavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Năm Dục Công Đức (Kāmaguṇasutta) — bài thứ bốn.
"Này các tỳ-kheo, trước khi giác ngộ, khi còn là Bồ-tát, chưa chứng giác ngộ, Ta đã nghĩ thế này:
'“Những năm dục công đức này đã từng được tâm Ta chạm tới — nay đã qua rồi, đã chấm dứt, đã biến đổi; và tâm Ta vẫn thường hướng tới chúng, vẫn đi theo chúng.”'
Rồi này các tỳ-kheo, Ta nghĩ thế này:
'“Những năm dục công đức này đã từng được tâm Ta chạm tới — nay đã qua rồi, đã chấm dứt, đã biến đổi; vậy Ta hãy sống với tâm riêng của mình, với không phóng dật, với chánh niệm, với tâm được tự tại.”'
Vì thế, này các tỳ-kheo, các vị cũng vậy: với những năm dục công đức đã từng được tâm các vị chạm tới — nay đã qua rồi, đã chấm dứt, đã biến đổi — các vị hãy sống với tâm riêng của mình, với không phóng dật, với chánh niệm.
Và này các tỳ-kheo, các vị hãy an trú trong chính mình, không phóng dật, không buông lung.
Vì thế, này các tỳ-kheo, xứ ấy phải được biết: chỗ mà con mắt chấm dứt và tưởng về sắc chấm dứt — xứ ấy phải được biết.
Chỗ mà cái lưỡi chấm dứt và tưởng về vị chấm dứt — xứ ấy phải được biết, và cứ thế với tai, mũi, thân.
Chỗ mà ý chấm dứt và tưởng về pháp chấm dứt — xứ ấy phải được biết.
Nói như vậy xong, Đức Thế Tôn đứng dậy rời chỗ ngồi, đi vào tịnh thất.
Rồi không bao lâu sau khi Đức Thế Tôn đi, các tỳ-kheo ấy nghĩ thế này:
Này các hiền giả, Đức Thế Tôn đã nêu một lời tóm tắt mà không giải nghĩa rộng, rồi đứng dậy đi vào tịnh thất.
'“Xứ ấy phải được biết: chỗ mà con mắt chấm dứt và tưởng về sắc chấm dứt — xứ ấy phải được biết.
Chỗ mà cái lưỡi chấm dứt và tưởng về vị chấm dứt — xứ ấy phải được biết, và cứ thế với tai, mũi, thân.
Chỗ mà ý chấm dứt và tưởng về pháp chấm dứt — xứ ấy phải được biết.”'
Ai có thể giải nghĩa rộng lời tóm tắt này của Đức Thế Tôn?
Rồi các tỳ-kheo ấy nghĩ thế này:
Tôn giả Ānanda này được Đức Thế Tôn khen ngợi, và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng.
Và Tôn giả Ānanda có khả năng giải nghĩa rộng lời tóm tắt này của Đức Thế Tôn.
Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ānanda, và hỏi Ngài về ý nghĩa này.
Rồi các tỳ-kheo ấy đi đến chỗ Tôn giả Ānanda, chào hỏi thăm sức khỏe.
Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân thiện và đáng nhớ, họ ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các tỳ-kheo ấy nói với Tôn giả Ānanda rằng:
Này hiền giả Ānanda, Đức Thế Tôn đã nêu một lời tóm tắt mà không giải nghĩa rộng, rồi đứng dậy đi vào tịnh thất:
'“Xứ ấy phải được biết: chỗ mà con mắt chấm dứt và tưởng về sắc chấm dứt — xứ ấy phải được biết.
Chỗ mà cái lưỡi chấm dứt và tưởng về vị chấm dứt — xứ ấy phải được biết, và cứ thế với tai, mũi, thân.
Chỗ mà ý chấm dứt và tưởng về pháp chấm dứt — xứ ấy phải được biết.”'
Này hiền giả, không bao lâu sau khi Đức Thế Tôn đi, chúng tôi nghĩ thế này:
'“Đức Thế Tôn đã nêu một lời tóm tắt mà không giải nghĩa rộng, rồi đứng dậy đi vào tịnh thất —
“Xứ ấy phải được biết: chỗ mà con mắt chấm dứt và tưởng về sắc chấm dứt — xứ ấy phải được biết.
Chỗ mà cái lưỡi chấm dứt và tưởng về vị chấm dứt — xứ ấy phải được biết, và cứ thế với tai, mũi, thân.
Chỗ mà ý chấm dứt và tưởng về pháp chấm dứt — xứ ấy phải được biết.”
Ai có thể giải nghĩa rộng lời tóm tắt này của Đức Thế Tôn?”'
Này hiền giả, chúng tôi nghĩ thế này:
'“Tôn giả Ānanda này được Đức Thế Tôn khen ngợi, và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng.
Và Tôn giả Ānanda có khả năng giải nghĩa rộng lời tóm tắt này của Đức Thế Tôn.
Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ānanda, và hỏi Ngài về ý nghĩa này.”'
Xin Tôn giả Ānanda hãy giải nghĩa.
Này các hiền giả, ví như một người cần lõi cây, tìm lõi cây, đang đi tìm lõi cây, mà đi vòng qua một cây lớn đang đứng, có lõi cây — và lại đi hỏi về lõi cây ở một cây khác.
Xin Tôn giả Ānanda hãy giải nghĩa, đừng ngại.
Vậy thì này các hiền giả, hãy nghe cho kỹ và khéo tác ý, tôi sẽ nói.
Thưa vâng, hiền giả. Các tỳ-kheo ấy đáp lại Tôn giả Ānanda.
Tôn giả Ānanda nói rằng:
Này các hiền giả, lời tóm tắt này của Đức Thế Tôn — lời tóm tắt đã được nêu ra mà ý nghĩa chưa được giải rộng, rồi Ngài đứng dậy đi vào tịnh thất:
'“Xứ ấy phải được biết: chỗ mà con mắt chấm dứt và tưởng về sắc chấm dứt — xứ ấy phải được biết.
Chỗ mà ý chấm dứt và tưởng về pháp chấm dứt — xứ ấy phải được biết.”'
Này các hiền giả, tôi hiểu ý nghĩa lời tóm tắt này của Đức Thế Tôn một cách rộng rãi như vầy:
Này các hiền giả, sự chấm dứt của sáu xứ — đấy là điều Đức Thế Tôn nói tới:
'“Xứ ấy phải được biết: chỗ mà con mắt chấm dứt và tưởng về sắc chấm dứt — xứ ấy phải được biết.
Chỗ mà ý chấm dứt và tưởng về pháp chấm dứt — xứ ấy phải được biết.”'
Này các hiền giả, lời tóm tắt này của Đức Thế Tôn — lời tóm tắt đã được nêu ra mà ý nghĩa chưa được giải rộng, rồi Ngài đứng dậy đi vào tịnh thất:
'“Xứ ấy phải được biết: chỗ mà con mắt chấm dứt và tưởng về sắc chấm dứt — xứ ấy phải được biết.
Chỗ mà ý chấm dứt và tưởng về pháp chấm dứt — xứ ấy phải được biết.”'
Này các hiền giả, tôi hiểu ý nghĩa lời tóm tắt này của Đức Thế Tôn một cách rộng rãi như vậy.
Và này các hiền giả, nếu các vị muốn, hãy đi đến Đức Thế Tôn
và hỏi Ngài về ý nghĩa này.
Đức Thế Tôn trả lời thế nào thì các vị nên ghi nhớ như vậy.
Thưa vâng, hiền giả. Các tỳ-kheo ấy đáp lại Tôn giả Ānanda, rồi đứng dậy đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
Bạch Thế Tôn, lời tóm tắt này của Đức Thế Tôn — lời tóm tắt đã được nêu ra mà ý nghĩa chưa được giải rộng, rồi Ngài đứng dậy đi vào tịnh thất:
'“Xứ ấy phải được biết: chỗ mà con mắt chấm dứt và tưởng về sắc chấm dứt — xứ ấy phải được biết.
Chỗ mà cái lưỡi chấm dứt và tưởng về vị chấm dứt — xứ ấy phải được biết, và cứ thế với tai, mũi, thân.
Chỗ mà ý chấm dứt và tưởng về pháp chấm dứt — xứ ấy phải được biết.”' Bạch Thế Tôn, không bao lâu sau khi Ngài đi, chúng con nghĩ thế này:
'“Đức Thế Tôn đã nêu một lời tóm tắt mà không giải nghĩa rộng, rồi đứng dậy đi vào tịnh thất —
“Xứ ấy phải được biết: chỗ mà con mắt chấm dứt và tưởng về sắc chấm dứt — xứ ấy phải được biết.
Chỗ mà ý chấm dứt và tưởng về pháp chấm dứt — xứ ấy phải được biết.”
Ai có thể giải nghĩa rộng lời tóm tắt này của Đức Thế Tôn?”'
Bạch Thế Tôn, chúng con nghĩ thế này:
'“Tôn giả Ānanda này được Đức Thế Tôn khen ngợi, và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng.
Và Tôn giả Ānanda có khả năng giải nghĩa rộng lời tóm tắt này của Đức Thế Tôn.
Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ānanda, và hỏi Ngài về ý nghĩa này.”'
Rồi bạch Thế Tôn, chúng con đi đến Tôn giả Ānanda và hỏi Ngài về ý nghĩa này.
Bạch Thế Tôn, Tôn giả Ānanda đã giải nghĩa cho chúng con bằng những cách ấy, những chữ ấy, những câu ấy.
Ānanda là người có trí tuệ, này các tỳ-kheo; Ānanda là người có trí tuệ lớn, này các tỳ-kheo.
Này các tỳ-kheo, nếu các vị hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng sẽ trả lời đúng như Ānanda đã trả lời.
Đấy chính là ý nghĩa ấy, và các vị nên ghi nhớ như vậy."
Bài thứ tư.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.