Tương Ưng Bộ · SN 14.25
Kinh Năm Học Pháp
Pañcasikkhāpadasutta — bài thứ hai mươi lăm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ hai mươi lăm là bài đầu tiên của phẩm mà nội dung được nêu bằng những việc làm cụ thể, không còn là những phẩm chất trừu tượng.
Những người sát sinh thì hòa hợp và gặp nhau với những người sát sinh; những người lấy của không cho thì hòa hợp và gặp nhau với những người lấy của không cho; những người tà hạnh trong các dục thì hòa hợp và gặp nhau với những người tà hạnh trong các dục; những người nói dối thì hòa hợp và gặp nhau với những người nói dối; những người dùng rượu và men say làm nhân cho sự dể duôi thì hòa hợp và gặp nhau với những người dùng rượu và men say làm nhân cho sự dể duôi.
Đây là năm học pháp, và chúng được nêu theo cả hai chiều: người phạm và người tránh.
Cách nêu này có một hiệu quả đặc biệt. Khi một việc làm được đặt trong một nhóm người, nó không còn là một lựa chọn riêng lẻ nữa. Nó trở thành một chỗ mà người ta thuộc về.
Và đó có lẽ là điều bài kinh muốn nói: không ai phạm một mình.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giới (Dhātusaṃyutta), tương ưng thứ 14.
Phẩm Con Đường Nghiệp (Kammapathavagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Giới.
Kinh Năm Học Pháp (Pañcasikkhāpadasutta) — bài thứ hai mươi lăm.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, chúng sinh hòa hợp và gặp nhau đúng theo giới của mình.
Những người sát sinh thì hòa hợp và gặp nhau với những người sát sinh;
những người lấy của không cho thì hòa hợp và gặp nhau với những người lấy của không cho;
những người tà hạnh trong các dục thì hòa hợp và gặp nhau với những người tà hạnh trong các dục;
những người nói dối thì hòa hợp và gặp nhau với những người nói dối;
những người dùng rượu và men say làm nhân cho sự dể duôi thì hòa hợp và gặp nhau với những người dùng rượu và men say làm nhân cho sự dể duôi.
Những người tránh xa sát sinh thì hòa hợp và gặp nhau với những người tránh xa sát sinh;
những người tránh xa lấy của không cho thì hòa hợp và gặp nhau với những người tránh xa lấy của không cho;
những người tránh xa tà hạnh trong các dục thì hòa hợp và gặp nhau với những người tránh xa tà hạnh trong các dục;
những người tránh xa nói dối thì hòa hợp và gặp nhau với những người tránh xa nói dối;
những người tránh xa rượu và men say làm nhân cho sự dể duôi thì hòa hợp và gặp nhau với những người tránh xa rượu và men say làm nhân cho sự dể duôi."
Bài thứ hai mươi lăm.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.