buppou

Tương Ưng Bộ · SN 12.45

Kinh Ñātika

Ñātikasutta — bài thứ năm

5 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Ñātika (Ñātikasutta) là một trong những bài đẹp nhất của Tương Ưng Nhân Duyên — vì nó có một cảnh.

Đức Thế Tôn ở Ñātika, trong ngôi nhà bằng gạch. Ngài ở riêng một mình, trong nơi vắng vẻ — và rồi Ngài nói lên bài pháp này. Không có thính chúng. Không có ai đặt câu hỏi.

Evaṁ me sutaṁ — Tôi nghe như vầy.

Và rồi, giữa bài, có một chi tiết rất nhỏ:

Lúc bấy giờ, có một tỳ-kheo đứng nghe trộm Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn thấy tỳ-kheo ấy đứng nghe trộm. Thấy vậy, Ngài nói với tỳ-kheo ấy: "Này tỳ-kheo, ông có nghe bài pháp này không?" "Bạch Thế Tôn, có."

Đó là toàn bộ cảnh. Một người nói một mình trong phòng. Một người đứng ngoài nghe lén. Và người trong phòng biết.

Rồi lời dặn:

"Này tỳ-kheo, hãy học thuộc bài pháp này; hãy tụng đọc bài pháp này; hãy ghi nhớ bài pháp này. Này tỳ-kheo, bài pháp này đem lại lợi ích, và là phần đầu của đời sống phạm hạnh."

Ādibrahmacariyako — "thuộc về phần đầu của đời sống phạm hạnh". Không phải giáo lý nâng cao. Phần đầu. Cái nằm ở cửa.

Và nội dung bài pháp ấy — điều đáng chú ý — không có gì mới. Đó chính là bài 12.44, đọc lại, sáu cửa, thuận rồi nghịch. Cùng một khuôn.

Nhưng cách nó được nói ra thì khác hẳn: một mình, trong phòng gạch, không có ai. Như thể Đức Thế Tôn đang tự nhắc mình — hay đang nói cho cái khoảnh khắc ấy, chứ không nói cho ai.

Và rồi có người nghe được. Và điều duy nhất Ngài dặn là: nhớ lấy. Vì bài pháp này không phải để hiểu một lần. Nó là phần đầu — nghĩa là chỗ người ta quay lại nhiều lần nhất.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.

Phẩm Gia Chủ (Gahapativagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Nhân Duyên.

Kinh Ñātika (Ñātikasutta) — bài thứ năm.


Tôi nghe như vầy —

một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Ñātika, trong ngôi nhà bằng gạch.

Rồi Đức Thế Tôn, khi ở riêng một mình, trong nơi vắng vẻ, đã nói lên bài pháp này:

"Do duyên mắt và sắc nên nhãn thức sinh khởi. Ba cái gặp nhau là xúc.

Do xúc làm duyên nên có thọ,

do thọ làm duyên nên có ái;

do ái làm duyên nên có thủ; do thủ làm duyên nên có hữu; do hữu làm duyên nên có sinh; do sinh làm duyên nên có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khối khổ này.

Do duyên tai và tiếng nên nhĩ thức sinh khởi. Ba cái gặp nhau là xúc.

Do duyên mũi và mùi nên tỷ thức sinh khởi. Ba cái gặp nhau là xúc.

Do duyên lưỡi và vị nên thiệt thức sinh khởi. Ba cái gặp nhau là xúc.

Do duyên thân và xúc chạm nên thân thức sinh khởi. Ba cái gặp nhau là xúc.

Do duyên ý và pháp nên ý thức sinh khởi. Ba cái gặp nhau là xúc.

Do xúc làm duyên nên có thọ;

do thọ làm duyên nên có ái;

do ái làm duyên nên có thủ; do thủ làm duyên nên có hữu; do hữu làm duyên nên có sinh; do sinh làm duyên nên có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khối khổ này.

Do duyên mắt và sắc nên nhãn thức sinh khởi. Ba cái gặp nhau là xúc.

Do xúc làm duyên nên có thọ;

do thọ làm duyên nên có ái.

Do chính ái ấy ly tham và chấm dứt không còn dư tàn nên thủ chấm dứt;

do thủ chấm dứt nên hữu chấm dứt; do hữu chấm dứt nên sinh chấm dứt; do sinh chấm dứt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt.

Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này.

Do duyên tai và tiếng nên nhĩ thức sinh khởi. Ba cái gặp nhau là xúc.

Do duyên ý và pháp nên ý thức sinh khởi. Ba cái gặp nhau là xúc.

Do xúc làm duyên nên có thọ;

do thọ làm duyên nên có ái.

Do chính ái ấy ly tham và chấm dứt không còn dư tàn nên thủ chấm dứt;

do thủ chấm dứt nên hữu chấm dứt; do hữu chấm dứt nên sinh chấm dứt; do sinh chấm dứt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt.

Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này."

Lúc bấy giờ, có một tỳ-kheo đứng nghe trộm Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn thấy tỳ-kheo ấy đứng nghe trộm.

Thấy vậy, Ngài nói với tỳ-kheo ấy:

"Này tỳ-kheo, ông có nghe bài pháp này không?"

"Bạch Thế Tôn, có."

"Này tỳ-kheo, hãy học thuộc bài pháp này;

này tỳ-kheo, hãy tụng đọc bài pháp này;

này tỳ-kheo, hãy ghi nhớ bài pháp này.

Này tỳ-kheo, bài pháp này đem lại lợi ích, và là phần đầu của đời sống phạm hạnh."

Kinh Ñātika, bài thứ năm, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →