buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.226

Kinh Ngoại Xứ Khổ

Bāhirāyatanadukkhasutta — bài thứ năm mươi chín

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ sáu mươi là ô thứ năm: ngoại xứ, khổ.

Này các tỳ-kheo, các sắc là khổ, các tiếng là khổ, các mùi là khổ, các vị là khổ, các vật chạm là khổ và các pháp là khổ.

Rồi hai đoạn kết.

Sáu mươi bài — và chỉ còn một bài nữa.

Tôi muốn dùng bài này để nói một điều cảm nhận, vì đã đi tới cuối một phẩm dài.

Dịch phẩm này không vui như dịch những phẩm có chuyện. Không có ai hỏi, không có ai trả lời, không có một hình ảnh nào — chỉ có một câu được lặp sáu mươi lần theo sáu mươi cách.

Nhưng có một khoảnh khắc đáng nhớ, và nó xảy ra ở bài cuối: khi bản Pali tự đếm mình.

Sáu mươi phép lặp đến đây là hết.

Câu ấy không phải giáo lý. Nó là một lời ghi. Và nó làm phẩm này, đột nhiên, có một giọng người.

Một người đã đếm, đã kiểm, và ghi lại — để người sau không phải đếm lại.

Đó là điều tôi sẽ nhớ về phẩm này.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Ngoại Xứ Khổ (Bāhirāyatanadukkhasutta) — bài thứ năm mươi chín.


"Này các tỳ-kheo, các sắc là khổ, các tiếng là khổ, các mùi là khổ, các vị là khổ, các vật chạm là khổ và các pháp là khổ.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp.

Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát; vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →