Tương Ưng Bộ · SN 42.005
Kinh Người Cưỡi Ngựa
Assārohasutta — bài thứ năm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Assārohasutta — Kinh Người Cưỡi Ngựa
Bài thứ năm lặp lại khuôn mẫu của bài thứ tư và bài thứ ba, chỉ đổi người hỏi: từ chiến binh bộ binh, sang người cưỡi voi, sang người cưỡi ngựa. Ba bài liền nhau như vậy không phải trùng lặp ngẫu nhiên, mà là một bộ ba có chủ ý: ấy là ba thành phần của một đạo quân.
Nhưng bài này khác hai bài trước ở một chi tiết. Bản Pali của nó không bị nén; toàn bộ cuộc đối thoại được chép đầy đủ, ba lần hỏi, hai lần từ chối, câu trả lời, nước mắt, và lời quy y. Chỉ có phần mở đầu là rút gọn bằng dấu hiệu lặp lại quen thuộc của bản Pali.
Đọc ba bài cạnh nhau, người ta thấy rõ cách bộ Tương Ưng được dựng lên: một nguyên lý, ba nghề, và một câu trả lời giống nhau đến từng chữ. Truyền thống không coi đó là sự lặp thừa, mà coi đó là sự xác nhận: cùng một nguyên lý, áp dụng cho mọi hoàn cảnh, không có ngoại lệ nào vì nghề nghiệp.
Này trưởng thôn, người cưỡi ngựa nào trong trận chiến nỗ lực và cố gắng, thì tâm của vị ấy trước đó đã bị nắm lấy, đã hướng sai: "Những chúng sinh này hãy bị giết, hãy bị trói, hãy bị cắt đi, hãy bị tiêu diệt, hay hãy đừng có được sống."
Có một điểm tinh tế trong bản Pali mà bản dịch giữ lại. Cả ba bài đều lặp cùng một cấu trúc câu: yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye — "bị đặt vào địa ngục như một vật bị mang tới". Hình ảnh ấy không phải là hình phạt từ bên ngoài; nó là kết quả tự nhiên của một cái tâm đã chọn hướng đi của nó, rồi bị chính hướng đi ấy mang đi.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Gāmaṇi (Gāmaṇisaṃyutta), tương ưng thứ 42.
Phẩm Gāmaṇi (Gāmaṇivagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Gāmaṇi.
Kinh Người Cưỡi Ngựa (Assārohasutta) — bài thứ năm.
"Rồi, ông trưởng thôn Assāroha, một người cưỡi ngựa, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Ông trưởng thôn Assāroha đang ngồi một bên, nói với Đức Thế Tôn rằng:
Bạch Thế Tôn, con có nghe các bậc thầy kỵ mã đời trước, những vị thầy của các bậc thầy kỵ mã, nói như vầy:
kỵ mã nào trong trận chiến nỗ lực và cố gắng, và bị người khác giết chết khi đang nỗ lực và cố gắng, thì sau khi thân hoại mạng chung, được sinh vào cõi của chư thiên Chiến Thắng.
Ở đây Đức Thế Tôn nói thế nào?
Thôi đi, này trưởng thôn, hãy để đó. Chớ hỏi ta điều ấy.
Lần thứ hai, ông trưởng thôn Assāroha hỏi Đức Thế Tôn đúng như vậy.
Lần thứ ba, ông trưởng thôn Assāroha nói với Đức Thế Tôn rằng:
Bạch Thế Tôn, con có nghe các bậc thầy kỵ mã đời trước, những vị thầy của các bậc thầy kỵ mã, nói như vầy:
kỵ mã nào trong trận chiến nỗ lực và cố gắng, và bị người khác giết chết khi đang nỗ lực và cố gắng, thì sau khi thân hoại mạng chung, được sinh vào cõi của chư thiên Chiến Thắng.
Ở đây Đức Thế Tôn nói thế nào?
Này trưởng thôn, quả thật ta đã không được ông để yên:
Thôi đi, này trưởng thôn, hãy để đó, chớ hỏi ta điều ấy.
Nhưng ta sẽ trả lời cho ông.
Này trưởng thôn, kỵ mã nào trong trận chiến nỗ lực và cố gắng, thì tâm của vị ấy trước đó đã bị nắm lấy, đã làm điều xấu, đã hướng sai:
Những chúng sinh này hãy bị giết, hãy bị trói, hãy bị cắt đi, hãy bị tiêu diệt, hay hãy đừng có được sống.
Và vị ấy bị người khác giết chết khi đang nỗ lực và cố gắng; sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sinh vào một địa ngục tên là Chiến Bại.
Còn nếu vị ấy có kiến như vầy:
kỵ mã nào trong trận chiến nỗ lực và cố gắng, và bị người khác giết chết khi đang nỗ lực và cố gắng, thì sau khi thân hoại mạng chung, được sinh vào cõi của chư thiên Chiến Thắng — thì ấy là tà kiến của vị ấy.
Này trưởng thôn, với người có tà kiến, ta nói rằng chỉ có một trong hai đường:
địa ngục, hay cõi súc sinh.
Khi được nói vậy, ông trưởng thôn Assāroha khóc, nước mắt tuôn ra.
Này trưởng thôn, ấy là điều ta đã không được ông để yên:
Thôi đi, này trưởng thôn, hãy để đó, chớ hỏi ta điều ấy.
Bạch Thế Tôn, con không khóc vì Đức Thế Tôn nói với con như vậy.
Mà bạch Thế Tôn, con đã bị các bậc thầy kỵ mã đời trước, những vị thầy của các bậc thầy kỵ mã, lừa dối, đánh lừa, dụ dỗ suốt một thời gian dài:
kỵ mã nào trong trận chiến nỗ lực và cố gắng, và bị người khác giết chết khi đang nỗ lực và cố gắng, thì sau khi thân hoại mạng chung, được sinh vào cõi của chư thiên Chiến Thắng.
Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!
Như người dựng lại vật bị lật úp, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, đem đèn vào chỗ tối để người có mắt thấy được các sắc — cũng vậy, Đức Thế Tôn đã dùng nhiều cách làm sáng tỏ pháp. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Đức Thế Tôn, quy y Pháp, và quy y Tăng chúng tỳ-kheo. Xin Đức Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ hôm nay cho đến trọn đời, đã quy y."
Bài thứ năm.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.