Tương Ưng Bộ · SN 19.9
Kinh Người Lông Kim Thứ Hai
Dutiyasūcilomasutta — bài thứ chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ chín là bài duy nhất trong tương ưng mô tả một đường đi bên trong thân thể.
Những cây kim ấy của nó, sau khi vào đầu, đi ra qua miệng; sau khi vào miệng, đi ra qua ngực;
Sáu đoạn, đi từ đầu xuống chân, và mỗi đoạn là một lần vào rồi ra. Đó là một hình ảnh chậm, và kinh không rút gọn nó lại.
Người ấy đã từng là thợ may. Và câu tóm tắt của phẩm, ở bài sau, sẽ nói đúng điều này bằng bốn chữ: ai bị khâu thì ấy là thợ may.
Đó là một trong những câu ghê nhất của cả bộ kinh, và nó được đặt trong một bài kệ tóm tắt, như thể chỉ là một dòng ghi chú. Cách đặt ấy làm cho nó nặng hơn.
Có một chi tiết nữa: bài này dài hơn hẳn tám bài trước, và nó là bài dài nhất của phẩm đầu. Kinh dành nhiều chữ nhất cho hình ảnh khó nói nhất, chứ không phải cho hình ảnh dễ nói nhất.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Lakkhaṇa (Lakkhaṇasaṃyutta), tương ưng thứ 19.
Phẩm Thứ Nhất (Paṭhamavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Lakkhaṇa.
Kinh Người Lông Kim Thứ Hai (Dutiyasūcilomasutta) — bài thứ chín.
"Này các bạn, ở đây tôi từ núi Gijjhakūṭa đi xuống, tôi thấy một người có lông là kim đi trên hư không.
Những cây kim ấy của nó, sau khi vào đầu, đi ra qua miệng;
sau khi vào miệng, đi ra qua ngực;
sau khi vào ngực, đi ra qua bụng;
sau khi vào bụng, đi ra qua hai đùi;
sau khi vào hai đùi, đi ra qua hai bắp chân;
sau khi vào hai bắp chân, đi ra qua hai bàn chân;
Nó kêu lên những tiếng đau đớn.
Này các bạn, điều ấy làm tôi suy nghĩ: Lạ thay, thật lạ thay — một chúng sinh như thế mà lại có; một dạ-xoa như thế mà lại có; một tự thể như thế mà lại có.
Này các tỳ-kheo, các đệ tử thật sự sống với con mắt; này các tỳ-kheo, các đệ tử thật sự sống với trí tuệ — đến mức một đệ tử có thể biết, có thể thấy, có thể chứng thực một điều như vậy.
Này các tỳ-kheo, Ta đã thấy chúng sinh ấy từ trước, nhưng Ta không nói ra. Nếu Ta nói ra, người khác sẽ không tin Ta. Những ai không tin Ta, điều ấy sẽ là bất lợi và khổ đau lâu dài cho họ.
Này các tỳ-kheo, chúng sinh ấy đã từng là thợ may ở chính Rājagaha này.
Do quả báo của nghiệp ấy, nó đã bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm; và với phần quả báo còn lại của nghiệp ấy, nó cảm thọ một tự thể như vậy."
Bài thứ chín.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.