buppou

Tương Ưng Bộ · SN 19.7

Kinh Người Lông Mũi Tên

Usulomasutta — bài thứ bảy

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ bảy: lông là mũi tên, và một kẻ hành hình.

Những mũi tên của nó vọt lên rồi lại rơi xuống trên chính thân nó.

Kẻ hành hình là người làm việc ấy cho người khác, không phải cho mình. Ông ta không chọn nạn nhân; ông ta chỉ thi hành. Nhưng quả báo thì vẫn tính cho ông ta, và tính đúng theo cách ấy.

Đó là một trong những chỗ sắc bén nhất của tương ưng, và nó được nói ra mà không một lời bình. Một người có thể nghĩ mình chỉ làm công việc được giao. Bài kinh không tranh luận với ý nghĩ ấy; nó chỉ đặt hình ảnh xuống.

Và mũi tên, trong kinh điển, thường là một thứ đi từ xa tới. Ở đây nó đi từ trong ra rồi trở lại. Đó là một sự đảo ngược nhỏ mà đáng để dừng lại.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Lakkhaṇa (Lakkhaṇasaṃyutta), tương ưng thứ 19.

Phẩm Thứ Nhất (Paṭhamavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Lakkhaṇa.

Kinh Người Lông Mũi Tên (Usulomasutta) — bài thứ bảy.


"Này các bạn, ở đây tôi từ núi Gijjhakūṭa đi xuống, tôi thấy một người có lông là mũi tên đi trên hư không.

Những mũi tên của nó vọt lên rồi lại rơi xuống trên chính thân nó.

Nó kêu lên những tiếng đau đớn.

Này các bạn, điều ấy làm tôi suy nghĩ: Lạ thay, thật lạ thay — một chúng sinh như thế mà lại có; một dạ-xoa như thế mà lại có; một tự thể như thế mà lại có.

Này các tỳ-kheo, các đệ tử thật sự sống với con mắt; này các tỳ-kheo, các đệ tử thật sự sống với trí tuệ — đến mức một đệ tử có thể biết, có thể thấy, có thể chứng thực một điều như vậy.

Này các tỳ-kheo, Ta đã thấy chúng sinh ấy từ trước, nhưng Ta không nói ra. Nếu Ta nói ra, người khác sẽ không tin Ta. Những ai không tin Ta, điều ấy sẽ là bất lợi và khổ đau lâu dài cho họ.

Này các tỳ-kheo, chúng sinh ấy đã từng là kẻ hành hình ở chính Rājagaha này.

Do quả báo của nghiệp ấy, nó đã bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm; và với phần quả báo còn lại của nghiệp ấy, nó cảm thọ một tự thể như vậy."

Bài thứ bảy.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →