buppou

Tương Ưng Bộ · SN 56.40

Kinh Người Ưa Tranh Luận

Vādatthikasutta — bài kinh về người không thể bị bắt bẻ

4 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Người Ưa Tranh Luận (Vādatthikasutta) khép phẩm bằng một hình ảnh khác của sự vững chãi: cột đá.

Ai hiểu bốn sự thật thì không thể bị một sa-môn hay bà-la-môn ưa tranh luận — người đi tìm cơ hội để bắt bẻ — làm cho lay chuyển, dù họ tới từ phía đông, tây, bắc hay nam. Họ có thể nói, nhưng không gỡ được.

Hình ảnh đi kèm: một cột đá cao mười sáu khuỷu, tám khuỷu chôn dưới đất, tám khuỷu nổi lên. Gió bão từ bốn phía không làm nó rung.

Câu hỏi của bài kinh hôm nay không còn là "có tin không" mà là "có gỡ được không". Và câu trả lời — dựa trên việc đã thấy khéo bốn sự thật — là không.

Bài cuối phẩm, kèm bài kệ tóm tắt mười bài.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Tứ Đế (Saccasaṃyutta), tương ưng thứ 56.

Phẩm Rừng Sīsapā (Sīsapāvanavagga) — phẩm thứ tư của Tương Ưng Tứ Đế.

Kinh Người Ưa Tranh Luận (Vādatthikasutta) — bài thứ mười.


"Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo nào hiểu như thật: "Đây là khổ"; hiểu như thật: "Đây là nguồn gốc của khổ"; hiểu như thật: "Đây là sự chấm dứt của khổ";

hiểu như thật: "Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ" — thì dù một sa-môn hay bà-la-môn ưa tranh luận, tìm cơ hội tranh luận, từ phía đông đi tới:

"Ta sẽ bắt bẻ lời của vị ấy" — và có thể làm vị ấy lay, chuyển, rung bằng chính pháp của vị ấy — điều ấy không thể xảy ra.

Dù từ phía tây đi tới, từ phía bắc đi tới,

từ phía nam đi tới,

một sa-môn hay bà-la-môn ưa tranh luận, tìm cơ hội tranh luận:

"Ta sẽ bắt bẻ lời của vị ấy" — và có thể làm vị ấy lay, chuyển, rung bằng chính pháp của vị ấy — điều ấy không thể xảy ra.

Này các tỳ-kheo, ví như một cột đá cao mười sáu khuỷu tay:

tám khuỷu chôn dưới đất, tám khuỷu nổi lên trên.

Dù gió bão lớn từ phía đông tới cũng không làm nó lay, không làm nó chuyển, không làm nó rung; dù gió bão lớn từ phía tây tới, từ phía bắc tới, từ phía nam tới cũng không làm nó lay, không làm nó chuyển, không làm nó rung.

Vì sao vậy?

Vì nền sâu, vì cột đá ấy được chôn khéo, này các tỳ-kheo.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo nào hiểu như thật: "Đây là khổ"; hiểu như thật: "Đây là nguồn gốc của khổ"; hiểu như thật: "Đây là sự chấm dứt của khổ"; hiểu như thật: "Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ";

thì dù một sa-môn hay bà-la-môn ưa tranh luận, tìm cơ hội tranh luận, từ phía đông đi tới: "Ta sẽ bắt bẻ lời của vị ấy" — và có thể làm vị ấy lay, chuyển, rung bằng chính pháp của vị ấy — điều ấy không thể xảy ra.

Dù từ phía tây đi tới,

từ phía bắc đi tới,

từ phía nam đi tới: "Ta sẽ bắt bẻ lời của vị ấy" — và có thể làm vị ấy lay, chuyển, rung bằng chính pháp của vị ấy — điều ấy không thể xảy ra.

Vì sao vậy?

Vì đã thấy khéo bốn sự thật cao quý, này các tỳ-kheo.

Bốn sự thật ấy là gì?

Sự thật cao quý về khổ, sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ, sự thật cao quý về sự chấm dứt của khổ, sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ.

Vậy nên, này các tỳ-kheo, hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là nguồn gốc của khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là sự chấm dứt của khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ"."

Kinh Người Ưa Tranh Luận, bài thứ mười, đến đây là hết.

Phẩm Rừng Sīsapā, phẩm thứ tư, đến đây là hết.


Kệ tóm tắt phẩm (uddāna) — bốn câu ghi tên mười bài.

Rừng Sīsapā, Khadira, Cây Gậy,

Tấm Vải, Trăm Ngọn Giáo;

Chúng Sinh, hai bài Mặt Trời,

Cột Trụ, và kẻ ưa tranh luận — hết phẩm.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →