Tương Ưng Bộ · SN 56.49
Kinh Núi Sineru (1)
Paṭhamasinerupabbatarājasutta — bài kinh ví bảy hạt đậu bên núi Sineru
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Núi Sineru (1) (Paṭhamasinerupabbatarājasutta) là bài kinh dễ hiểu nhất về quả của tuệ giác đầu tiên.
Hình ảnh: bảy hòn sỏi to bằng hạt đậu đặt bên cạnh núi Sineru, vua của các núi. So sánh thì bảy hòn sỏi ấy không đáng kể — không đếm được, không so được, không tính được một phần nào.
Rồi Đức Thế Tôn so: với một vị đã thấy bốn sự thật, khối khổ đã chấm dứt lớn như núi Sineru; khối khổ còn lại — tối đa bảy lần sinh nữa — nhỏ như bảy hạt đậu.
Điều đáng chú ý là mốc "bảy lần". Kinh không nói người ấy hết khổ ngay; nói rằng phần còn lại đã bị giới hạn, và không còn đáng kể.
Bài sau lật ngược hình ảnh: núi Sineru bị bào mòn hết, chỉ còn bảy hòn sỏi — cùng một kết luận.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Tứ Đế (Saccasaṃyutta), tương ưng thứ 56.
Phẩm Vực Thẳm (Papātavagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Tứ Đế.
Kinh Núi Sineru (1) (Paṭhamasinerupabbatarājasutta) — bài thứ chín.
"Này các tỳ-kheo, ví như có người đặt bên cạnh núi Sineru, vua của các núi, bảy hòn sỏi to bằng hạt đậu.
Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào,
cái nào nhiều hơn — bảy hòn sỏi to bằng hạt đậu được đặt ở đó, hay núi Sineru, vua của các núi?"
"Cái này nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là núi Sineru, vua của các núi;
bảy hòn sỏi to bằng hạt đậu được đặt ở đó thật chẳng đáng kể.
Bảy hòn sỏi to bằng hạt đậu ấy không đếm được, không so được, không tính được một phần nhỏ nào khi đặt bên cạnh núi Sineru, vua của các núi."
"Cũng vậy, này các tỳ-kheo, với một vị đã thấy bốn sự thật, khối khổ đã được chấm dứt, đã được tiêu hết thì nhiều hơn; phần còn lại thì chẳng đáng kể.
Này các tỳ-kheo, khối khổ ấy không đếm được, không so được, không tính được một phần nhỏ nào khi đặt bên cạnh khối khổ trước kia đã được chấm dứt, đã được tiêu hết — phần còn lại chỉ là tối đa bảy lần sinh nữa.
Đó là với người hiểu như thật: "Đây là khổ"; hiểu như thật: "Đây là nguồn gốc của khổ"; hiểu như thật: "Đây là sự chấm dứt của khổ"; hiểu như thật: "Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ".
Vậy nên, này các tỳ-kheo, hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là nguồn gốc của khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là sự chấm dứt của khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ"."
Kinh Núi Sineru (1), bài thứ chín, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.