buppou

Tương Ưng Bộ · SN 13.009

Kinh Núi Tuyết (Một)

Paṭhamahimavāsutta — bài thứ chín

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ chín mở đầu nhóm ba bài về núi. Một người đặt lên núi Tuyết — vua của các ngọn núi — bảy hòn sỏi nhỏ như hạt cải.

Một người đặt lên núi Tuyết — vua của các ngọn núi — bảy hòn sỏi nhỏ như hạt cải.

Núi Tuyết là dãy Himalaya, và "vua của các ngọn núi" là một tước hiệu quen thuộc trong kinh Pali. Nó không chỉ là ngọn núi cao nhất, mà là ngọn núi đứng đầu — cái mốc để đo mọi ngọn khác.

Chi tiết đáng chú ý là kích thước hạt: hạt cải, nhỏ hơn hạt đậu ở bài thứ năm. Như vậy trong khi vật lớn được nâng lên từ đất sang núi, thì vật nhỏ lại được hạ xuống từ đậu sang cải. Hai đầu cùng mở rộng, và tỉ lệ vì thế càng chênh lệch.

Đây là lối tu từ rất tinh của bộ kinh: không chỉ đổi vật, mà đổi cả hai đầu cùng lúc. Người đọc không thấy mình bị dẫn đi đâu, cho đến khi dừng lại và nhận ra khoảng cách đã lớn đến mức nào.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Hiện Quán (Abhisamayasaṃyutta), tương ưng thứ 13.

Phẩm Thứ Nhất (Abhisamayavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Hiện Quán.

Kinh Núi Tuyết (Một) (Paṭhamahimavāsutta) — bài thứ chín.


"Tại Sāvatthī.

Ví như, này các tỳ-kheo, một người đặt lên núi Tuyết — vua của các ngọn núi — bảy hòn sỏi nhỏ như hạt cải.

Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào:

cái nào nhiều hơn — bảy hòn sỏi nhỏ như hạt cải ấy, hay là núi Tuyết — vua của các ngọn núi —?

Bạch Thế Tôn, núi Tuyết — vua của các ngọn núi — nhiều hơn hẳn; bảy hòn sỏi ấy thật chẳng đáng kể.

Không bằng một phần trăm, không bằng một phần nghìn, không bằng một phần trăm nghìn của núi Tuyết ấy.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, khổ mà vị thánh đệ tử

đã hiểu rõ thì nhiều vô kể; khổ đã được chấm dứt, đã đi đến chỗ không còn thì chỉ còn một chút.

Sự hiểu rõ pháp là lớn lao như vậy, này các tỳ-kheo; sự chứng đắc pháp nhãn là lớn lao như vậy."

Bài thứ chín.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →