buppou

Tương Ưng Bộ · SN 12.69

Kinh Nước Dâng

Upayantisutta — bài thứ chín

5 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Nước Dâng (Upayantisutta) là bài ngắn nhất của phẩm Mahā — tám dòng — và nó là một bức tranh thủy văn.

Khi biển lớn dâng lên, nó làm cho các sông lớn dâng lên; các sông lớn dâng lên làm cho các sông nhỏ dâng lên; các sông nhỏ dâng lên làm cho các ao lớn dâng lên; các ao lớn dâng lên làm cho các ao nhỏ dâng lên.

Bốn tầng nước, và nước chảy từ lớn xuống nhỏ. Biển không phải nơi nước đến — biển là nơi nước dâng từ. Một hình ảnh ngược với cái người ta thường nghĩ: sông đổ ra biển, nhưng ở đây biển dâng thì sông dâng.

Rồi mười hai chiếc, cùng một động từ, lặp lại mười một lần:

vô minh dâng lên → hành dâng lên → thức dâng lên → danh sắc dâng lên → sáu xứ dâng lên → xúc dâng lên → thọ dâng lên → ái dâng lên → thủ dâng lên → hữu dâng lên → sinh dâng lên → già chết dâng lên.

Và rồi bài kinh lặp lại toàn bộ, đảo chiều, với một động từ khác:

Khi biển lớn rút xuống, nó làm cho các sông lớn rút xuống; các sông lớn rút xuống làm cho các sông nhỏ rút xuống; các sông nhỏ rút xuống làm cho các ao lớn rút xuống; các ao lớn rút xuống làm cho các ao nhỏ rút xuống.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, khi vô minh rút xuống, nó làm cho hành rút xuống; hành rút xuống làm cho thức rút xuống; thức rút xuống làm cho danh sắc rút xuống; danh sắc rút xuống làm cho sáu xứ rút xuống; sáu xứ rút xuống làm cho xúc rút xuống; xúc rút xuống làm cho thọ rút xuống; thọ rút xuống làm cho ái rút xuống; ái rút xuống làm cho thủ rút xuống; thủ rút xuống làm cho hữu rút xuống; hữu rút xuống làm cho sinh rút xuống; sinh rút xuống làm cho già chết rút xuống.

Hai động từ ấy, upayāpeti và apayāpeti, là một cặp hiếm gặp — "dâng lên" và "rút xuống", "chảy vào" và "chảy ra". Và điều đáng chú ý là bài kinh không giải thích gì thêm. Không có ai hỏi. Không có ví dụ thứ hai. Tám dòng, và hết.

Nhưng trong tám dòng ấy có một điều mà các bài trước chỉ nói bằng lý luận: duyên khởi là một chuyển động, không phải một danh sách. Người ta thường học mười hai chiếc như mười hai ô trên một hàng. Bài này nói: không, nó là nước — và nước thì lên xuống cùng nhau.

Và cái được đặt ở đầu nguồn là vô minh — không phải một ý niệm trừu tượng, mà là cái làm cho nước dâng. Khi nó dâng, cả hệ thống dâng theo, đến tận già chết. Khi nó rút, cả hệ thống rút theo.

Đó là lý do bài kinh này chỉ có tám dòng: một khi đã thấy nó là nước, thì không cần giải thích thêm nữa.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.

Phẩm Mahā (Mahāvagga) — phẩm thứ bảy của Tương Ưng Nhân Duyên.

Kinh Nước Dâng (Upayantisutta) — bài thứ chín.


Tôi nghe như vầy —

một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong rừng Jeta, khu vườn của Anāthapiṇḍika.

Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo: "Này các tỳ-kheo." "Bạch Thế Tôn", các tỳ-kheo ấy đáp lời Ngài. Đức Thế Tôn nói như vầy:

"Này các tỳ-kheo, khi biển lớn dâng lên, nó làm cho các sông lớn dâng lên; các sông lớn dâng lên làm cho các sông nhỏ dâng lên; các sông nhỏ dâng lên làm cho các ao lớn dâng lên; các ao lớn dâng lên làm cho các ao nhỏ dâng lên.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, khi vô minh dâng lên, nó làm cho hành dâng lên; hành dâng lên làm cho thức dâng lên; thức dâng lên làm cho danh sắc dâng lên; danh sắc dâng lên làm cho sáu xứ dâng lên; sáu xứ dâng lên làm cho xúc dâng lên; xúc dâng lên làm cho thọ dâng lên; thọ dâng lên làm cho ái dâng lên; ái dâng lên làm cho thủ dâng lên; thủ dâng lên làm cho hữu dâng lên; hữu dâng lên làm cho sinh dâng lên; sinh dâng lên làm cho già chết dâng lên.

Này các tỳ-kheo, khi biển lớn rút xuống, nó làm cho các sông lớn rút xuống; các sông lớn rút xuống làm cho các sông nhỏ rút xuống; các sông nhỏ rút xuống làm cho các ao lớn rút xuống; các ao lớn rút xuống làm cho các ao nhỏ rút xuống.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, khi vô minh rút xuống, nó làm cho hành rút xuống; hành rút xuống làm cho thức rút xuống; thức rút xuống làm cho danh sắc rút xuống; danh sắc rút xuống làm cho sáu xứ rút xuống; sáu xứ rút xuống làm cho xúc rút xuống; xúc rút xuống làm cho thọ rút xuống; thọ rút xuống làm cho ái rút xuống; ái rút xuống làm cho thủ rút xuống; thủ rút xuống làm cho hữu rút xuống; hữu rút xuống làm cho sinh rút xuống; sinh rút xuống làm cho già chết rút xuống."

Kinh Nước Dâng, bài thứ chín, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →