buppou

Tương Ưng Bộ · SN 12.70

Kinh Susima

Susimaparibbājakasutta — bài thứ mười

24 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Susima (Susimaparibbājakasutta) khép phẩm Mahā — và nó khép bằng một người đến để ăn cắp.

Bối cảnh được kể rất rõ, và rất trần tục:

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn được kính trọng, quý mến, tôn sùng, cúng dường, đảnh lễ, và nhận được đầy đủ y phục, đồ ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men trị bệnh. Chúng tỳ-kheo cũng vậy. Còn các du sĩ ngoại đạo thì không được kính trọng, không được cúng dường.

Và thế là hội chúng của du sĩ Susima nghĩ ra một kế:

"Này hiền giả Susima, hãy đến và sống đời phạm hạnh dưới giáo pháp của sa-môn Gotama. Ông học pháp ấy rồi sẽ dạy lại cho chúng tôi. Chúng tôi học pháp ấy rồi sẽ nói lại cho các gia chủ. Như vậy chúng tôi cũng sẽ được kính trọng, quý mến, tôn sùng, cúng dường."

Đó là toàn bộ lý do ông ta xuất gia: để có người cúng dường. Và Đức Thế Tôn biết điều ấy — nhưng vẫn cho xuất gia.

Rồi Susima nghe nhiều tỳ-kheo tuyên bố đã giác ngộ, và ông đi hỏi họ. Ông hỏi sáu câu, và cả sáu câu đều nhận một chữ "không":

  • Chư vị có thần thông chăng? — Không.
  • Chư vị có thiên nhĩ chăng? — Không.
  • Chư vị có tha tâm thông chăng? — Không.
  • Chư vị có nhớ đời trước chăng? — Không.
  • Chư vị có thiên nhãn chăng? — Không.
  • Chư vị có chạm bằng thân các định vô sắc chăng? — Không.

Và câu hỏi khó nhất, câu mà Susima đặt ra với vẻ đắc thắng:

"Vậy thì, này chư Tôn giả, ở đây có lời tuyên bố này mà lại không chứng đắc được các pháp kia — việc ấy nghĩa là thế nào?" "Này hiền giả Susima, chúng tôi là bậc giải thoát bằng trí tuệ."

Paññāvimutta — giải thoát bằng trí tuệ. Không có thần thông, không có các tầng thiền vô sắc, mà vẫn giải thoát. Đó là một trong những điểm mà Phật giáo Nguyên thủy nói rõ nhất: con đường không cần phép lạ.

Rồi Susima đến hỏi Đức Thế Tôn, và nhận được một câu rất khó nghe, và lặp lại hai lần:

"Này Susima, trí về sự vững vàng của pháp đến trước, trí về niết-bàn đến sau." "Bạch Thế Tôn, con không hiểu." "Này Susima, dù ông có hiểu hay không hiểu, thì trí về sự vững vàng của pháp đến trước, trí về niết-bàn đến sau."

Dhammaṭṭhitiñāṇaṁ — trí về sự đứng vững của pháp, tức là trí thấy rằng: pháp này là vậy, pháp này vận hành như vậy, dù có ai xuất hiện hay không. Đó là thứ đến trước. Còn niết-bàn đến sau — như một hệ quả, không phải một món quà.

Rồi Đức Thế Tôn dẫn ông đi qua năm uẩn, và qua mười hai chiếc, và rồi hỏi đúng sáu câu mà Susima đã hỏi các tỳ-kheo — nhưng lần này hỏi về chính ông:

"Nhưng này Susima, khi biết như vậy, thấy như vậy, ông có thực hiện được các loại thần thông chăng?" "Bạch Thế Tôn, không."

Sáu lần "không". Và rồi câu kết, cùng một câu mà Susima đã hỏi các tỳ-kheo, giờ được hỏi lại với ông:

"Vậy thì, này Susima, ở đây có lời tuyên bố này mà lại không chứng đắc được các pháp kia — việc ấy nghĩa là thế nào?"

Và Susima cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, con đã phạm lỗi — ngu si, mê muội, bất thiện — khi con xuất gia trong giáo pháp và giới luật được khéo tuyên thuyết này mà lại là kẻ trộm pháp."

Dhammatthenaka — kẻ trộm pháp. Cái chữ ấy chính xác đến mức tàn nhẫn: ông ta không ăn cắp giáo lý để hiểu. Ông ta ăn cắp giáo lý để bán lại.

Và câu trả lời của Đức Thế Tôn đưa ra hình ảnh về hình phạt nặng nhất trong các bài kinh này — không phải thịt con, không phải ba trăm nhát giáo, mà là:

Trói chặt sau lưng bằng dây thừng chắc, cạo đầu, dẫn đi khắp các đường phố, các ngã tư với tiếng trống, dẫn ra khỏi cổng phía nam, và chém đầu ở phía nam thành.

Rồi Ngài nói câu mà tôi nghĩ là câu khó nhất của bài kinh:

Nhưng này Susima, việc xuất gia làm kẻ trộm pháp trong giáo pháp và giới luật được khéo tuyên thuyết này còn có quả khổ nặng hơn, quả chua cay hơn, và còn dẫn đến đọa xứ.

Không phải vì ăn cắp. Mà vì đã có mặt trong một nơi có thể giải thoát, và dùng chỗ ấy để kiếm cơm.

Nhưng bài kinh không kết ở đó. Nó kết ở chỗ Susima thấy lỗi là lỗi — và Đức Thế Tôn nhận lỗi ấy, với một câu mà mọi người tu hành nên nhớ:

"Này Susima, trong giới luật của bậc thánh, đây là sự tăng trưởng: thấy lỗi là lỗi, sửa lại đúng theo pháp, và thu thúc về sau."

Vuddhi — sự lớn lên. Trong giới luật này, thấy mình sai không phải là một sự sụp đổ. Đó là một sự lớn lên.

Và phẩm Mahā khép lại bằng kệ tóm tắt:

Hai bài Không Nghe Giáo Pháp, và Thịt Con là bài khác; Có Tham và Thành Phố, Quán Sát, Bó Lau; Kosambī và Nước Dâng, bài thứ mười là Susima.

Mười bài. Và bài cuối cùng là bài duy nhất sai người. Một người vào cửa này với lý do sai — và ra khỏi cửa này với một lời xin lỗi thật.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.

Phẩm Mahā (Mahāvagga) — phẩm thứ bảy của Tương Ưng Nhân Duyên.

Kinh Susima (Susimaparibbājakasutta) — bài thứ mười.


Tôi nghe như vầy —

một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha, trong rừng trúc Veḷuvana, tại nơi nuôi dưỡng sóc.

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn được kính trọng, quý mến, tôn sùng, cúng dường, đảnh lễ, và nhận được đầy đủ y phục, đồ ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men trị bệnh.

Chúng tỳ-kheo cũng được kính trọng, quý mến, tôn sùng, cúng dường, đảnh lễ, và nhận được đầy đủ y phục, đồ ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men trị bệnh.

Còn các du sĩ ngoại đạo thì không được kính trọng, không được quý mến, không được tôn sùng, không được cúng dường, không được đảnh lễ, và không nhận được y phục, đồ ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men trị bệnh.

Lúc bấy giờ, du sĩ Susima trú tại Rājagaha cùng với một hội chúng du sĩ đông đảo.

Rồi hội chúng của du sĩ Susima nói với du sĩ Susima:

"Này hiền giả Susima, hãy đến và sống đời phạm hạnh dưới giáo pháp của sa-môn Gotama.

Ông học pháp ấy rồi sẽ dạy lại cho chúng tôi.

Chúng tôi học pháp ấy rồi sẽ nói lại cho các gia chủ.

Như vậy chúng tôi cũng sẽ được kính trọng, quý mến, tôn sùng, cúng dường, đảnh lễ, và nhận được y phục, đồ ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men trị bệnh."

"Vâng, các hiền giả", du sĩ Susima nhận lời hội chúng của mình, rồi đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; đến rồi, chào hỏi Tôn giả Ānanda những lời thân mật đáng nhớ.

Sau khi chào hỏi những lời thân mật đáng nhớ, du sĩ Susima ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Susima nói với Tôn giả Ānanda:

"Này hiền giả Ānanda, tôi muốn sống đời phạm hạnh trong giáo pháp và giới luật này."

Rồi Tôn giả Ānanda dẫn du sĩ Susima đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, du sĩ Susima này nói như vầy:

'Này hiền giả Ānanda, tôi muốn sống đời phạm hạnh trong giáo pháp và giới luật này.'"

"Vậy thì, này Ānanda, hãy cho Susima xuất gia."

Du sĩ Susima được xuất gia trước Đức Thế Tôn, và được thọ cụ túc giới.

Lúc bấy giờ, nhiều tỳ-kheo đã tuyên bố sự giác ngộ trước Đức Thế Tôn:

"Ta biết rõ: 'Sinh đã tận, phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì nữa cho đời này.'"

Tôn giả Susima nghe được:

"Nghe nói nhiều tỳ-kheo đã tuyên bố sự giác ngộ trước Đức Thế Tôn:

'Sinh đã tận, phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì nữa cho đời này.'"

Rồi Tôn giả Susima đi đến chỗ các tỳ-kheo ấy; đến rồi, chào hỏi các vị ấy những lời thân mật đáng nhớ.

Sau khi chào hỏi những lời thân mật đáng nhớ, Tôn giả Susima ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Susima nói với các tỳ-kheo ấy:

"Có thật chư Tôn giả đã tuyên bố sự giác ngộ trước Đức Thế Tôn:

'Sinh đã tận, phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì nữa cho đời này' chăng?"

"Vâng, này hiền giả."

"Nhưng này chư Tôn giả, khi biết như vậy, thấy như vậy, chư vị có thực hiện được các loại thần thông — một thân hóa thành nhiều thân, nhiều thân hóa thành một thân; hiện ra rồi ẩn mất; đi xuyên qua tường, qua thành, qua núi mà không bị cản trở như đi trong hư không; độn thổ và trồi lên như ở trong nước; đi trên nước mà không bị chìm như đi trên đất; ngồi kiết già đi trên hư không như chim bay; chạm và vuốt bằng tay mặt trời, mặt trăng, những vật có đại thần lực, đại uy lực như vậy; và thân có thể đi đến tận cõi Phạm thiên chăng?"

"Không, này hiền giả."

"Nhưng này chư Tôn giả, khi biết như vậy, thấy như vậy, chư vị có nghe được hai loại âm thanh, loài trời và loài người, xa và gần, bằng thiên nhĩ thanh tịnh siêu phàm chăng?"

"Không, này hiền giả."

"Nhưng này chư Tôn giả, khi biết như vậy, thấy như vậy, chư vị có biết được tâm của các chúng sinh khác, của các người khác bằng tâm của mình chăng —

biết tâm có tham là 'tâm có tham';

biết tâm không tham là 'tâm không tham';

biết tâm có sân là 'tâm có sân';

biết tâm không sân là 'tâm không sân';

biết tâm có si là 'tâm có si';

biết tâm không si là 'tâm không si';

biết tâm co rút là 'tâm co rút';

biết tâm tán loạn là 'tâm tán loạn';

biết tâm rộng lớn là 'tâm rộng lớn';

biết tâm không rộng lớn là 'tâm không rộng lớn';

biết tâm có bậc trên là 'tâm có bậc trên';

biết tâm không có bậc trên là 'tâm không có bậc trên';

biết tâm định là 'tâm định';

biết tâm không định là 'tâm không định';

biết tâm giải thoát là 'tâm giải thoát';

biết tâm không giải thoát là 'tâm không giải thoát' chăng?"

"Không, này hiền giả."

"Nhưng này chư Tôn giả, khi biết như vậy, thấy như vậy, chư vị có nhớ lại nhiều đời sống trước — một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một nghìn đời, một trăm nghìn đời, nhiều kiếp tạo thành, nhiều kiếp tan hoại, nhiều kiếp tạo thành và tan hoại: 'Ở đó ta có tên như vậy, dòng họ như vậy, màu da như vậy, thức ăn như vậy, cảm thọ lạc khổ như vậy, tuổi thọ như vậy. Từ đó chết đi, ta sinh ra ở chỗ kia. Ở đó ta có tên như vậy, dòng họ như vậy, màu da như vậy, thức ăn như vậy, cảm thọ lạc khổ như vậy, tuổi thọ như vậy. Từ đó chết đi, ta sinh ra ở đây.' Như vậy chư vị có nhớ lại nhiều đời sống trước cùng với các nét đại thể và chi tiết chăng?"

"Không, này hiền giả."

"Nhưng này chư Tôn giả, khi biết như vậy, thấy như vậy, chư vị có thấy các chúng sinh chết đi và sinh ra bằng thiên nhãn thanh tịnh siêu phàm — thấy các chúng sinh hạ liệt và cao quý, đẹp và xấu, may mắn và bất hạnh, tùy theo nghiệp của họ: 'Các chúng sinh này đã làm điều ác, nói điều ác, suy nghĩ điều ác, phỉ báng các bậc thánh, có tà kiến, nhận lấy nghiệp do tà kiến. Sau khi chết, họ sinh vào đường dữ, cõi dữ, đọa xứ, địa ngục. Còn các chúng sinh này đã làm điều thiện, nói điều thiện, suy nghĩ điều thiện, không phỉ báng các bậc thánh, có chánh kiến, nhận lấy nghiệp do chánh kiến. Sau khi chết, họ sinh vào cõi lành, cõi trời.' Như vậy chư vị có thấy các chúng sinh chết đi và sinh ra, hạ liệt và cao quý, đẹp và xấu, may mắn và bất hạnh, tùy theo nghiệp của họ chăng?"

"Không, này hiền giả."

"Nhưng này chư Tôn giả, khi biết như vậy, thấy như vậy, chư vị có chạm bằng thân và an trú trong các sự giải thoát an tịnh, vượt qua các sắc, thuộc cõi vô sắc chăng?"

"Không, này hiền giả."

"Vậy thì, này chư Tôn giả, ở đây có lời tuyên bố này mà lại không chứng đắc được các pháp kia — việc ấy nghĩa là thế nào?"

"Này hiền giả Susima, chúng tôi là bậc giải thoát bằng trí tuệ."

"Tôi không hiểu ý nghĩa của lời nói vắn tắt ấy của chư Tôn giả khi được giải thích rộng ra.

Lành thay, xin chư Tôn giả nói lại như vậy để tôi có thể hiểu ý nghĩa của lời nói vắn tắt ấy khi được giải thích rộng ra."

"Này hiền giả Susima, dù ông có hiểu hay không hiểu, thì chúng tôi vẫn là bậc giải thoát bằng trí tuệ."

Rồi Tôn giả Susima đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.

Ngồi một bên, Tôn giả Susima kể lại cho Đức Thế Tôn toàn bộ câu chuyện đã xảy ra giữa mình và các tỳ-kheo ấy.

"Này Susima, trí về sự vững vàng của pháp đến trước, trí về niết-bàn đến sau."

"Bạch Thế Tôn, con không hiểu ý nghĩa của lời nói vắn tắt ấy của Đức Thế Tôn khi được giải thích rộng ra.

Lành thay, xin Đức Thế Tôn nói lại như vậy để con có thể hiểu ý nghĩa của lời nói vắn tắt ấy khi được giải thích rộng ra."

"Này Susima, dù ông có hiểu hay không hiểu, thì trí về sự vững vàng của pháp đến trước, trí về niết-bàn đến sau.

Này Susima, ông nghĩ thế nào —

sắc là thường hay vô thường?"

"Bạch Thế Tôn, là vô thường."

"Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?"

"Bạch Thế Tôn, là khổ."

"Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, có hợp lý chăng khi quán nó là:

'Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta'?"

"Bạch Thế Tôn, không."

"Thọ là thường hay vô thường?"

"Bạch Thế Tôn, là vô thường."

"Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?"

"Bạch Thế Tôn, là khổ."

"Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, có hợp lý chăng khi quán nó là:

'Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta'?"

"Bạch Thế Tôn, không."

"Tưởng là thường hay vô thường?"

"Bạch Thế Tôn, là vô thường. Cái gì vô thường thì là khổ. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì không hợp lý khi quán nó là: 'Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta.'"

"Hành là thường hay vô thường?"

"Bạch Thế Tôn, là vô thường."

"Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?"

"Bạch Thế Tôn, là khổ."

"Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, có hợp lý chăng khi quán nó là:

'Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta'?"

"Bạch Thế Tôn, không."

"Thức là thường hay vô thường?"

"Bạch Thế Tôn, là vô thường."

"Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?"

"Bạch Thế Tôn, là khổ."

"Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, có hợp lý chăng khi quán nó là:

'Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta'?"

"Bạch Thế Tôn, không."

"Vì vậy, này Susima, phàm sắc gì — quá khứ, hiện tại hay vị lai; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; hạ liệt hay cao quý; xa hay gần — thì tất cả sắc ấy phải được quán đúng như thật bằng chánh trí tuệ: 'Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta.'

Phàm thọ gì — quá khứ, hiện tại hay vị lai; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; hạ liệt hay cao quý; xa hay gần — thì tất cả thọ ấy phải được quán đúng như thật bằng chánh trí tuệ: 'Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta.'

Phàm tưởng gì — quá khứ, hiện tại hay vị lai; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; hạ liệt hay cao quý; xa hay gần — thì tất cả tưởng ấy phải được quán đúng như thật bằng chánh trí tuệ: 'Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta.'

Phàm hành gì — quá khứ, hiện tại hay vị lai; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; hạ liệt hay cao quý; xa hay gần — thì tất cả hành ấy phải được quán đúng như thật bằng chánh trí tuệ: 'Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta.'

Phàm thức gì — quá khứ, hiện tại hay vị lai; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; hạ liệt hay cao quý; xa hay gần — thì tất cả thức ấy phải được quán đúng như thật bằng chánh trí tuệ: 'Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta.'

Này Susima, thấy như vậy, vị thánh đệ tử có nghe giáo pháp nhàm chán nơi sắc, nhàm chán nơi thọ, nhàm chán nơi tưởng, nhàm chán nơi hành, nhàm chán nơi thức.

Nhàm chán nên ly tham; ly tham nên giải thoát; trong sự giải thoát ấy có tri: 'Ta đã giải thoát.'

Vị ấy biết rõ: 'Sinh đã tận, phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì nữa cho đời này.'

"Này Susima, ông có thấy: 'Do sinh làm duyên nên có già chết' chăng?"

"Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do hữu làm duyên nên có sinh' chăng?"

"Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do thủ làm duyên nên có hữu' chăng?"

"Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do ái làm duyên nên có thủ' chăng?"

"Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do thọ làm duyên nên có ái' chăng?" — "Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do xúc làm duyên nên có thọ' chăng?" — "Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do sáu xứ làm duyên nên có xúc' chăng?" — "Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do danh sắc làm duyên nên có sáu xứ' chăng?" — "Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do thức làm duyên nên có danh sắc' chăng?" — "Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do hành làm duyên nên có thức' chăng?" — "Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do vô minh làm duyên nên có hành' chăng?"

"Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do sinh chấm dứt nên già chết chấm dứt' chăng?"

"Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do hữu chấm dứt nên sinh chấm dứt' chăng?"

"Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do thủ chấm dứt nên hữu chấm dứt' chăng?" — "Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do ái chấm dứt nên thủ chấm dứt' chăng?" — "Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do thọ chấm dứt nên ái chấm dứt' chăng?" — "Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do xúc chấm dứt nên thọ chấm dứt' chăng?" — "Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do sáu xứ chấm dứt nên xúc chấm dứt' chăng?" — "Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do danh sắc chấm dứt nên sáu xứ chấm dứt' chăng?" — "Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do thức chấm dứt nên danh sắc chấm dứt' chăng?" — "Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do hành chấm dứt nên thức chấm dứt' chăng?" — "Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, ông có thấy: 'Do vô minh chấm dứt nên hành chấm dứt' chăng?"

"Bạch Thế Tôn, vâng."

"Nhưng này Susima, khi biết như vậy, thấy như vậy, ông có thực hiện được các loại thần thông — một thân hóa thành nhiều thân, nhiều thân hóa thành một thân; hiện ra rồi ẩn mất; đi xuyên qua tường, qua thành, qua núi mà không bị cản trở như đi trong hư không; độn thổ và trồi lên như ở trong nước; đi trên nước mà không bị chìm như đi trên đất; ngồi kiết già đi trên hư không như chim bay; chạm và vuốt bằng tay mặt trời, mặt trăng, những vật có đại thần lực, đại uy lực như vậy; và thân có thể đi đến tận cõi Phạm thiên chăng?"

"Bạch Thế Tôn, không."

"Nhưng này Susima, khi biết như vậy, thấy như vậy, ông có nghe được hai loại âm thanh, loài trời và loài người, xa và gần, bằng thiên nhĩ thanh tịnh siêu phàm chăng?"

"Bạch Thế Tôn, không."

"Nhưng này Susima, khi biết như vậy, thấy như vậy, ông có biết được tâm của các chúng sinh khác, của các người khác bằng tâm của mình chăng —

biết tâm có tham là 'tâm có tham'; biết tâm không tham là 'tâm không tham'; biết tâm có sân là 'tâm có sân'; biết tâm không sân là 'tâm không sân'; biết tâm có si là 'tâm có si'; biết tâm không si là 'tâm không si'; biết tâm co rút là 'tâm co rút'; biết tâm tán loạn là 'tâm tán loạn'; biết tâm rộng lớn là 'tâm rộng lớn'; biết tâm không rộng lớn là 'tâm không rộng lớn'; biết tâm có bậc trên là 'tâm có bậc trên'; biết tâm không có bậc trên là 'tâm không có bậc trên'; biết tâm định là 'tâm định'; biết tâm không định là 'tâm không định';

biết tâm giải thoát là 'tâm giải thoát'; biết tâm không giải thoát là 'tâm không giải thoát' chăng?"

"Bạch Thế Tôn, không."

"Nhưng này Susima, khi biết như vậy, thấy như vậy, ông có nhớ lại nhiều đời sống trước — một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một nghìn đời, một trăm nghìn đời, nhiều kiếp tạo thành, nhiều kiếp tan hoại, nhiều kiếp tạo thành và tan hoại: 'Ở đó ta có tên như vậy, dòng họ như vậy, màu da như vậy, thức ăn như vậy, cảm thọ lạc khổ như vậy, tuổi thọ như vậy. Từ đó chết đi, ta sinh ra ở chỗ kia. Ở đó ta có tên như vậy, dòng họ như vậy, màu da như vậy, thức ăn như vậy, cảm thọ lạc khổ như vậy, tuổi thọ như vậy. Từ đó chết đi, ta sinh ra ở đây.' Như vậy ông có nhớ lại nhiều đời sống trước cùng với các nét đại thể và chi tiết chăng?"

"Bạch Thế Tôn, không."

"Nhưng này Susima, khi biết như vậy, thấy như vậy, ông có thấy các chúng sinh chết đi và sinh ra bằng thiên nhãn thanh tịnh siêu phàm — thấy các chúng sinh hạ liệt và cao quý, đẹp và xấu, may mắn và bất hạnh, tùy theo nghiệp của họ chăng?"

"Bạch Thế Tôn, không."

"Nhưng này Susima, khi biết như vậy, thấy như vậy, ông có chạm bằng thân và an trú trong các sự giải thoát an tịnh, vượt qua các sắc, thuộc cõi vô sắc chăng?"

"Bạch Thế Tôn, không."

"Vậy thì, này Susima, ở đây có lời tuyên bố này mà lại không chứng đắc được các pháp kia — việc ấy nghĩa là thế nào?"

Rồi Tôn giả Susima cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và bạch Ngài:

"Bạch Thế Tôn, con đã phạm lỗi — ngu si, mê muội, bất thiện — khi con xuất gia trong giáo pháp và giới luật được khéo tuyên thuyết này mà lại là kẻ trộm pháp.

Xin Đức Thế Tôn nhận lỗi ấy của con là lỗi, để con thu thúc về sau."

"Này Susima, đúng vậy, ông đã phạm lỗi — ngu si, mê muội, bất thiện — khi ông xuất gia trong giáo pháp và giới luật được khéo tuyên thuyết này mà lại là kẻ trộm pháp.

Này Susima, ví như người ta bắt được một tên trộm phạm tội và dẫn đến trình vua:

'Tâu Đại vương, đây là tên trộm phạm tội. Xin Đại vương xử phạt y theo ý muốn.'

Rồi vua ấy nói như vầy:

'Này các người, hãy đi trói người này chặt sau lưng bằng dây thừng chắc, cạo đầu, rồi dẫn đi khắp các đường phố, các ngã tư với tiếng trống da thô và dùi trống, dẫn ra khỏi cổng phía nam, và chém đầu ở phía nam thành.'

Rồi những người của vua ấy trói người ấy chặt sau lưng bằng dây thừng chắc, cạo đầu, dẫn đi khắp các đường phố, các ngã tư với tiếng trống da thô và dùi trống, dẫn ra khỏi cổng phía nam, và chém đầu ở phía nam thành.

Này Susima, ông nghĩ thế nào —

người ấy, do đó, có cảm thọ khổ và ưu chăng?"

"Bạch Thế Tôn, vâng."

"Này Susima, người ấy do đó cảm thọ khổ và ưu như vậy.

Nhưng này Susima, việc xuất gia làm kẻ trộm pháp trong giáo pháp và giới luật được khéo tuyên thuyết này còn có quả khổ nặng hơn, quả chua cay hơn, và còn dẫn đến đọa xứ.

Này Susima, vì ông đã thấy lỗi là lỗi và sửa lại đúng theo pháp, nên Ta nhận lỗi ấy của ông.

Này Susima, trong giới luật của bậc thánh, đây là sự tăng trưởng: thấy lỗi là lỗi, sửa lại đúng theo pháp, và thu thúc về sau."

Kinh Susima, bài thứ mười, đến đây là hết.

Phẩm Mahā, phẩm thứ bảy, đến đây là hết.

Kệ tóm tắt phẩm:

Hai bài Không Nghe Giáo Pháp,

và Thịt Con là bài khác;

Có Tham và Thành Phố,

Quán Sát, Bó Lau;

Kosambī và Nước Dâng,

bài thứ mười là Susima.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →