buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.88

Kinh Puṇṇa

Puṇṇasutta — bài thứ năm

9 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài cuối phẩm là bài dài thứ hai, và là một trong những câu chuyện hay nhất của Tương Ưng Sáu Xứ: Tôn giả Puṇṇa xin pháp vắn tắt, rồi xin đi đến một xứ hung dữ.

Đức Thế Tôn dạy Ngài trước hết về cơ chế:

Này Puṇṇa, có những sắc được nhãn thức biết đến — đáng ưa, đáng thích, đáng vừa lòng, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, khơi gợi tham. Nếu tỳ-kheo vui thích, hoan nghênh, bám vào và an trú nơi đó, thì hỷ sinh khởi. Do hỷ sinh khởi nên khổ sinh khởi, Ta nói vậy.

Một chuỗi ba bước: vui thích → hỷ → khổ. Và bước thứ nhất là vui thích — abhinandati. Không phải tham dữ dội. Chỉ là thấy dễ chịu.

Rồi Ngài dạy mặt kia: không vui thích thì hỷ chấm dứt, khổ chấm dứt.

Rồi câu hỏi: ngươi sẽ trú ở đâu?

Bạch Thế Tôn, có một xứ tên là Sunāparanta; con sẽ trú ở đó.

Và Đức Thế Tôn cảnh báo: dân xứ ấy hung dữ, thô lỗ. Nếu họ mắng ngươi thì sao?

Rồi cả một chuỗi năm câu hỏi — và đây là phần hay nhất của bài, một bài tập về cách nhìn:

  • Nếu họ mắng nhiếc: họ thật tốt, vì chưa dùng tay đánh con.
  • Nếu họ dùng tay đánh: họ thật tốt, vì chưa ném đá vào con.
  • Nếu họ ném đá: họ thật tốt, vì chưa dùng gậy đánh con.
  • Nếu họ dùng gậy: họ thật tốt, vì chưa dùng dao chém con.
  • Nếu họ dùng dao chém: họ thật tốt, vì chưa dùng dao bén giết con.
  • Nếu họ giết: có những đệ tử của Đức Thế Tôn, vì ghê tởm thân và ghê tởm mạng sống, mà tự tìm lấy con dao. Còn con thì không cần tìm mà đã được giải thoát khỏi thân và mạng sống này.

Chuỗi này không phải một bài tập chịu đựng. Nó là một bài tập nhìn xuống một bậc: mỗi lần, cái đang xảy ra được đặt cạnh một cái tệ hơn — và vì thế nó trở thành một cái may.

Và Đức Thế Tôn kết: "Này Puṇṇa, ngươi có thể sống ở xứ Sunāparanta, vì ngươi đã được trang bị bằng sự an tĩnh ấy."

Rồi phần cuối, rất gọn và rất lặng: Puṇṇa đến đó, trong một mùa an cư, đưa năm trăm nam cư sĩ và năm trăm nữ cư sĩ đến chỗ chứng ngộ, tự mình chứng ba minh, rồi nhập niết-bàn.

Và khi các tỳ-kheo hỏi ông ấy đi về đâu, Đức Thế Tôn nói:

Này các tỳ-kheo, Puṇṇa là người có trí tuệ. Ông ấy đã thực hành đúng theo pháp, và đã không làm Ta phiền lòng về pháp.

Một đời người, trong một bài kinh, gói trong mười bảy đoạn. Và câu khen cuối cùng không phải "ông ấy chứng quả" — mà là "ông ấy không làm Ta phiền lòng".

Đó là một cách khen rất lạ, và rất ấm.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Channa (Channavagga) — phẩm thứ chín của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Puṇṇa (Puṇṇasutta) — bài thứ năm.


"Rồi Tôn giả Puṇṇa đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Puṇṇa bạch Đức Thế Tôn rằng:

Bạch Thế Tôn, lành thay, xin Ngài giảng cho con pháp một cách vắn tắt. Sau khi nghe pháp ấy, con sẽ sống một mình, xa lánh, không phóng dật, nhiệt tâm, quyết lòng.

Này Puṇṇa, có những sắc được nhãn thức biết đến — đáng ưa, đáng thích, đáng vừa lòng, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, khơi gợi tham.

Nếu tỳ-kheo vui thích, hoan nghênh, bám vào và an trú nơi đó,

thì nơi vị ấy đang vui thích, đang hoan nghênh, đang bám vào và an trú, hỷ sinh khởi.

'Này Puṇṇa, do hỷ sinh khởi nên khổ sinh khởi, Ta nói vậy.'

Cũng vậy với các tiếng, các mùi, các vị, các vật chạm.

Và này Puṇṇa, có những pháp được ý thức biết đến — đáng ưa, đáng thích, đáng vừa lòng, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, khơi gợi tham.

Nếu tỳ-kheo vui thích, hoan nghênh, bám vào và an trú nơi đó,

thì nơi vị ấy đang vui thích, đang hoan nghênh, đang bám vào và an trú, hỷ sinh khởi.

'Này Puṇṇa, do hỷ sinh khởi nên khổ sinh khởi, Ta nói vậy.'

Này Puṇṇa, có những sắc được nhãn thức biết đến — đáng ưa, đáng thích, đáng vừa lòng, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, khơi gợi tham.

Nếu tỳ-kheo không vui thích, không hoan nghênh, không bám vào và an trú nơi đó, thì nơi vị ấy hỷ chấm dứt.

'Này Puṇṇa, do hỷ chấm dứt nên khổ chấm dứt, Ta nói vậy.'

Cũng vậy với các tiếng, các mùi, các vị, các vật chạm — và những pháp được ý thức biết đến.

Nếu tỳ-kheo không vui thích, không hoan nghênh, không bám vào và an trú nơi đó, thì nơi vị ấy hỷ chấm dứt.

'Này Puṇṇa, do hỷ chấm dứt nên khổ chấm dứt, Ta nói vậy.'

Này Puṇṇa, ngươi đã được Ta khuyên bằng lời khuyên vắn tắt ấy. Vậy ngươi sẽ trú ở xứ nào?

Bạch Thế Tôn, có một xứ tên là Sunāparanta; con sẽ trú ở đó.

Này Puṇṇa, dân xứ Sunāparanta thì hung dữ.

Này Puṇṇa, dân xứ Sunāparanta thì thô lỗ.

Này Puṇṇa, nếu dân xứ Sunāparanta mắng nhiếc và phỉ báng ngươi, thì lúc ấy ngươi nghĩ thế nào?

Bạch Thế Tôn, nếu dân xứ Sunāparanta mắng nhiếc và phỉ báng con, thì lúc ấy con sẽ nghĩ như vầy:

'Dân xứ Sunāparanta này thật là tốt, thật là rất tốt — vì họ chưa dùng tay đánh con.'

Bạch Thế Tôn, lúc ấy con sẽ nghĩ như vậy;

bạch Thiện Thệ, lúc ấy con sẽ nghĩ như vậy.

Nếu dân xứ Sunāparanta dùng tay đánh ngươi, thì lúc ấy ngươi nghĩ thế nào?

Bạch Thế Tôn, nếu dân xứ Sunāparanta dùng tay đánh con, thì lúc ấy con sẽ nghĩ như vầy:

'Dân xứ Sunāparanta này thật là tốt, thật là rất tốt — vì họ chưa ném đá vào con.'

Bạch Thế Tôn, lúc ấy con sẽ nghĩ như vậy;

bạch Thiện Thệ, lúc ấy con sẽ nghĩ như vậy.

Nếu dân xứ Sunāparanta ném đá vào ngươi, thì lúc ấy ngươi nghĩ thế nào?

Bạch Thế Tôn, nếu dân xứ Sunāparanta ném đá vào con, thì lúc ấy con sẽ nghĩ như vầy:

'Dân xứ Sunāparanta này thật là tốt, thật là rất tốt — vì họ chưa dùng gậy đánh con.'

Bạch Thế Tôn, lúc ấy con sẽ nghĩ như vậy;

bạch Thiện Thệ, lúc ấy con sẽ nghĩ như vậy.

Nếu dân xứ Sunāparanta dùng gậy đánh ngươi, thì lúc ấy ngươi nghĩ thế nào?

Bạch Thế Tôn, nếu dân xứ Sunāparanta dùng gậy đánh con, thì lúc ấy con sẽ nghĩ như vầy:

'Dân xứ Sunāparanta này thật là tốt, thật là rất tốt — vì họ chưa dùng dao chém con.'

Bạch Thế Tôn, lúc ấy con sẽ nghĩ như vậy;

bạch Thiện Thệ, lúc ấy con sẽ nghĩ như vậy.

Nếu dân xứ Sunāparanta dùng dao chém ngươi, thì lúc ấy ngươi nghĩ thế nào?

Bạch Thế Tôn, nếu dân xứ Sunāparanta dùng dao chém con, thì lúc ấy con sẽ nghĩ như vầy:

'Dân xứ Sunāparanta này thật là tốt, thật là rất tốt — vì họ chưa dùng dao bén giết con.'

Bạch Thế Tôn, lúc ấy con sẽ nghĩ như vậy;

bạch Thiện Thệ, lúc ấy con sẽ nghĩ như vậy.

Nếu dân xứ Sunāparanta dùng dao bén giết ngươi, thì lúc ấy ngươi nghĩ thế nào?

Bạch Thế Tôn, nếu dân xứ Sunāparanta dùng dao bén giết con, thì lúc ấy con sẽ nghĩ như vầy:

'Có những đệ tử của Đức Thế Tôn, vì ghê tởm thân và ghê tởm mạng sống, mà tự tìm lấy con dao. Còn con thì không cần tìm mà đã được giải thoát khỏi thân và mạng sống này.'

Bạch Thế Tôn, lúc ấy con sẽ nghĩ như vậy;

bạch Thiện Thệ, lúc ấy con sẽ nghĩ như vậy.

Lành thay, lành thay, này Puṇṇa.

Này Puṇṇa, ngươi có thể sống ở xứ Sunāparanta, vì ngươi đã được trang bị bằng sự an tĩnh ấy.

Này Puṇṇa, bây giờ ngươi hãy làm những gì ngươi thấy đúng lúc.

Rồi Tôn giả Puṇṇa hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy, đứng dậy, đảnh lễ Ngài, đi nhiễu bên phải, rồi thu xếp chỗ ở, mang y bát và lên đường.

Đi dần từng chặng, Ngài đến xứ Sunāparanta.

Tại đó, Tôn giả Puṇṇa trú ở xứ Sunāparanta.

Rồi trong mùa an cư ấy, Tôn giả Puṇṇa đã đưa năm trăm nam cư sĩ đến chỗ chứng ngộ.

Trong mùa an cư ấy, Ngài đã đưa năm trăm nữ cư sĩ đến chỗ chứng ngộ.

Trong mùa an cư ấy, Ngài đã tự mình chứng ba minh.

Trong mùa an cư ấy, Ngài đã nhập niết-bàn.

Rồi nhiều tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn rằng:

Bạch Thế Tôn, vị thiện nam tử tên Puṇṇa ấy, đã được Ngài khuyên bằng lời khuyên vắn tắt, nay đã qua đời.

Ngài ấy sẽ đi về đâu, sẽ tái sinh ở đâu?

Này các tỳ-kheo, Puṇṇa là người có trí tuệ. Ông ấy đã thực hành đúng theo pháp, và đã không làm Ta phiền lòng về pháp.

Này các tỳ-kheo, Puṇṇa đã nhập niết-bàn."

Bài thứ năm.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →