buppou

Tương Ưng Bộ · SN 14.38

Kinh Sa-Môn Bà-La-Môn Thứ Hai

Dutiyasamaṇabrāhmaṇasutta — bài thứ ba mươi tám

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ ba mươi tám là bài thứ nhất rút gọn, và nó rút gọn bằng cách bỏ đi phần lập luận.

Này các tỳ-kheo, có bốn giới này. Bốn giới ấy là gì? Địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.

Rồi nó nêu hai trường hợp: người không biết, và người biết. Không có giải thích thêm, và ở giữa có một ghi chú rằng phần còn lại cần được giảng rộng như bài trước.

Ghi chú ấy là một dấu vết của cách truyền khẩu. Người tụng kinh biết rằng bài này và bài trước giống nhau, nên chỉ cần nói phần khác.

Đọc bản ghi lại, người ta thấy một điều thú vị: bộ kinh không cố che giấu sự lặp lại. Nó ghi chú nó, và đi tiếp.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giới (Dhātusaṃyutta), tương ưng thứ 14.

Phẩm Thứ Tư (Catutthavagga) — phẩm thứ tư của Tương Ưng Giới.

Kinh Sa-Môn Bà-La-Môn Thứ Hai (Dutiyasamaṇabrāhmaṇasutta) — bài thứ ba mươi tám.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, có bốn giới này.

Bốn giới ấy là gì?

Địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.

Này các tỳ-kheo, những sa-môn hay bà-la-môn nào không biết rõ địa giới, không biết rõ sự sinh khởi của địa giới, không biết rõ sự đoạn diệt của địa giới, không biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của địa giới; không biết rõ thủy giới, hỏa giới, phong giới cùng sự sinh khởi, sự đoạn diệt và con đường đưa đến sự đoạn diệt của chúng —

[Chú thích: Phần còn lại cần được giảng rộng như bài trước.]

Này các tỳ-kheo, còn những sa-môn hay bà-la-môn nào biết rõ địa giới, biết rõ sự sinh khởi, sự đoạn diệt và con đường đưa đến sự đoạn diệt của địa giới; biết rõ thủy giới, hỏa giới, phong giới cùng sự sinh khởi, sự đoạn diệt và con đường đưa đến sự đoạn diệt của chúng —

này các tỳ-kheo, những vị ấy được tôn xưng là sa-môn giữa hàng sa-môn, được tôn xưng là bà-la-môn giữa hàng bà-la-môn; và những vị ấy tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, ngay trong đời này, chứng đạt và an trú mục đích của sa-môn và mục đích của phạm hạnh."

Bài thứ ba mươi tám.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →