Tương Ưng Bộ · SN 17.26
Kinh Sa-Môn Bà-La-Môn Thứ Hai
Dutiyasamaṇabrāhmaṇasutta — bài thứ hai mươi sáu
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ hai mươi sáu mở rộng bộ ba thành bộ năm.
Này các tỳ-kheo, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào không biết rõ như thật sự sinh khởi, sự biến mất, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của lợi đắc, cung kính và danh vọng.
Hai chữ thêm vào là sự sinh khởi và sự biến mất. Chúng biến một sự phân tích về giá trị thành một sự phân tích về điều kiện: cái này từ đâu mà có, và khi nào thì hết.
Đó là một bước chuyển quan trọng, và nó làm cho bài kinh khó thực hành hơn. Ai cũng có thể thấy vị ngọt của một lời khen. Thấy được nó sinh khởi từ đâu thì khó hơn nhiều.
Phần còn lại của bài giữ nguyên hình thức của bài trước, kể cả câu kết về mục đích của sa-môn và mục đích của phạm hạnh.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Lợi Đắc (Lābhasakkārasaṃyutta), tương ưng thứ 17.
Phẩm Thứ Ba (Tatiyavagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Lợi Đắc.
Kinh Sa-Môn Bà-La-Môn Thứ Hai (Dutiyasamaṇabrāhmaṇasutta) — bài thứ hai mươi sáu.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào không biết rõ như thật sự sinh khởi, sự biến mất, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của lợi đắc, cung kính và danh vọng — này các tỳ-kheo, những vị ấy không được Ta xem là sa-môn giữa hàng sa-môn, không được xem là bà-la-môn giữa hàng bà-la-môn; và những vị tôn giả ấy không tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, ngay trong đời này, chứng đạt và an trú mục đích của sa-môn và mục đích của phạm hạnh.
Này các tỳ-kheo, còn bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào biết rõ như thật sự sinh khởi, sự biến mất, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của lợi đắc, cung kính và danh vọng — này các tỳ-kheo, những vị ấy được Ta xem là sa-môn giữa hàng sa-môn, được xem là bà-la-môn giữa hàng bà-la-môn;
và những vị tôn giả ấy tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, ngay trong đời này, chứng đạt và an trú mục đích của sa-môn và mục đích của phạm hạnh."
Bài thứ hai mươi sáu.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.