buppou

Tương Ưng Bộ · SN 12.13

Kinh Sa-môn và Bà-la-môn

Samaṇabrāhmaṇasutta — bài thứ ba

5 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Sa-môn và Bà-la-môn (Samaṇabrāhmaṇasutta) đưa ra một tiêu chuẩn có thể làm nhiều người khó chịu.

Này các tỳ-kheo, có những sa-môn và bà-la-môn không hiểu già chết, không hiểu nguồn gốc của nó, không hiểu sự chấm dứt của nó, không hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của nó.

Rồi Ngài lặp lại câu ấy mười một lần — cho từng mắt xích, từ già chết lùi về hành. Rồi kết luận:

Ta không xem họ là những sa-môn hay bà-la-môn thật sự.

Đó là một câu nặng. Không phải "họ kém hơn", không phải "họ sai". Mà là: họ chưa phải là người xuất gia đúng nghĩa — dù họ mặc áo, dù họ tụng kinh, dù họ được cả vùng kính trọng.

Và tiêu chuẩn ấy không phải một nghi lễ. Nó là bốn điều, cho mỗi mắt xích: hiểu cái ấy, hiểu nó từ đâu ra, hiểu nó chấm dứt thế nào, hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt ấy. Nhân với mười một mắt xích.

Nửa sau bài là mặt kia: ai hiểu được thì được xem là thật, và "sống với sự chứng ngộ ấy bằng trí tuệ của chính mình ngay trong đời này".

Chữ đáng chú ý là "ngay trong đời này". Không phải sau khi chết. Không phải kiếp sau. Bài này không để chỗ cho việc hoãn.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.

Phẩm Thức Ăn (Āhāravagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Nhân Duyên.

Kinh Sa-môn và Bà-la-môn (Samaṇabrāhmaṇasutta) — bài thứ ba.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.

"Này các tỳ-kheo, có những sa-môn và bà-la-môn không hiểu già chết, không hiểu nguồn gốc của già chết, không hiểu sự chấm dứt của già chết, không hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của già chết.

Họ không hiểu sinh, không hiểu nguồn gốc của sinh, không hiểu sự chấm dứt của sinh, không hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của sinh.

Họ không hiểu hữu, không hiểu nguồn gốc của hữu, không hiểu sự chấm dứt của hữu, không hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của hữu.

Họ không hiểu thủ, không hiểu nguồn gốc của thủ, không hiểu sự chấm dứt của thủ, không hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của thủ.

Họ không hiểu ái, không hiểu nguồn gốc của ái, không hiểu sự chấm dứt của ái, không hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của ái.

Họ không hiểu thọ, không hiểu nguồn gốc của thọ, không hiểu sự chấm dứt của thọ, không hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của thọ.

Họ không hiểu xúc, không hiểu nguồn gốc của xúc, không hiểu sự chấm dứt của xúc, không hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của xúc.

Họ không hiểu sáu xứ, không hiểu nguồn gốc của sáu xứ, không hiểu sự chấm dứt của sáu xứ, không hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của sáu xứ.

Họ không hiểu danh sắc, không hiểu nguồn gốc của danh sắc, không hiểu sự chấm dứt của danh sắc, không hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của danh sắc.

Họ không hiểu thức, không hiểu nguồn gốc của thức, không hiểu sự chấm dứt của thức, không hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của thức.

Họ không hiểu hành, không hiểu nguồn gốc của hành, không hiểu sự chấm dứt của hành, không hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của hành.

Ta không xem họ là những sa-môn hay bà-la-môn thật sự. Những vị ấy không chứng được mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và không sống với sự chứng ngộ ấy bằng trí tuệ của chính mình ngay trong đời này.

Này các tỳ-kheo, có những sa-môn và bà-la-môn hiểu già chết, hiểu nguồn gốc của già chết, hiểu sự chấm dứt của già chết, hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của già chết.

Họ hiểu sinh, hiểu nguồn gốc của sinh, hiểu sự chấm dứt của sinh, hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của sinh.

Họ hiểu hữu, hiểu nguồn gốc của hữu, hiểu sự chấm dứt của hữu, hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của hữu.

Họ hiểu thủ, hiểu nguồn gốc của thủ, hiểu sự chấm dứt của thủ, hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của thủ.

Họ hiểu ái, hiểu nguồn gốc của ái, hiểu sự chấm dứt của ái, hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của ái.

Họ hiểu thọ, hiểu nguồn gốc của thọ, hiểu sự chấm dứt của thọ, hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của thọ.

Họ hiểu xúc, hiểu nguồn gốc của xúc, hiểu sự chấm dứt của xúc, hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của xúc.

Họ hiểu sáu xứ, hiểu nguồn gốc của sáu xứ, hiểu sự chấm dứt của sáu xứ, hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của sáu xứ.

Họ hiểu danh sắc, hiểu nguồn gốc của danh sắc, hiểu sự chấm dứt của danh sắc, hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của danh sắc.

Họ hiểu thức, hiểu nguồn gốc của thức, hiểu sự chấm dứt của thức, hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của thức.

Họ hiểu hành, hiểu nguồn gốc của hành, hiểu sự chấm dứt của hành, hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của hành.

Ta xem họ là những sa-môn hay bà-la-môn thật sự. Những vị ấy chứng được mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và sống với sự chứng ngộ ấy bằng trí tuệ của chính mình ngay trong đời này."

Kinh Sa-môn và Bà-la-môn, bài thứ ba, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →