Tương Ưng Bộ · SN 22.107
Kinh Sa-môn
Samaṇasutta — bài thứ năm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Sa-môn (Samaṇasutta) là một trong bốn bài ngắn cùng khuôn của phẩm này — và chúng đáng đọc liền nhau, vì chúng vẽ nên một đường đi bằng bốn mốc.
Bài đặt vấn đề bằng một tiêu chuẩn thật lạ:
Này các tỳ-kheo, có năm thủ uẩn này: sắc, thọ, tưởng, các hành, thức. Có những sa-môn và bà-la-môn không hiểu đúng như thật vị ngọt, cái hại và lối ra của năm thủ uẩn ấy — những vị ấy không phải là sa-môn trong số các sa-môn, không phải là bà-la-môn trong số các bà-la-môn.
Nghĩa là: mặc áo không làm nên sa-môn. Cái làm nên là hiểu được ba điều ấy — vị ngọt, cái hại, lối ra.
Bài không nói thêm gì. Nhưng đọc xong, câu hỏi còn lại rất cụ thể: tôi có đang thấy vị ngọt, cái hại và lối ra của cái tôi đang bám không? Nếu chưa, tôi đang ở đâu trong bài này?
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.
Phẩm Có Đầu Mút (Antavagga) — phẩm thứ sáu của Tương Ưng Uẩn.
Kinh Sa-môn (Samaṇasutta) — bài thứ năm.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
"Này các tỳ-kheo, có năm thủ uẩn này.
Năm ấy là gì?
Đó là thủ uẩn sắc, thủ uẩn thọ, thủ uẩn tưởng, thủ uẩn các hành, thủ uẩn thức.
Này các tỳ-kheo, có những sa-môn và bà-la-môn không hiểu đúng như thật vị ngọt, cái hại và lối ra của năm thủ uẩn này. Những vị ấy, này các tỳ-kheo, không phải là sa-môn trong số các sa-môn, không phải là bà-la-môn trong số các bà-la-môn; và những vị ấy không sống đã tự mình chứng ngộ và đạt đến mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn.
Nhưng này các tỳ-kheo, có những sa-môn và bà-la-môn hiểu đúng như thật vị ngọt, cái hại và lối ra của năm thủ uẩn này. Những vị ấy, này các tỳ-kheo, đúng là sa-môn trong số các sa-môn, đúng là bà-la-môn trong số các bà-la-môn; và những vị ấy sống đã tự mình chứng ngộ và đạt đến mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn."
Kinh Sa-môn, bài thứ năm, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.