Tương Ưng Bộ · SN 39.1
Kinh Sāmaṇḍaka
Sāmaṇḍakasutta — bài thứ một
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Tương Ưng Sāmaṇḍaka là tương ưng ngắn nhất của Tương Ưng Bộ — 16 bài — và nó có một điều đặc biệt mà người đọc cần biết trước khi đọc bài đầu.
Nó gần như trùng với tương ưng trước.
Tương Ưng Jambukhādaka có 16 bài, cùng người đáp là Tôn giả Sāriputta, cùng mười lăm câu hỏi, cùng con đường tám nhánh, cùng câu kết "thế là đủ để không phóng dật".
Tương Ưng Sāmaṇḍaka có 16 bài, cùng người đáp là Tôn giả Sāriputta, cùng mười lăm câu hỏi, cùng con đường tám nhánh, cùng câu kết ấy.
Chỉ đổi người hỏi — từ Jambukhādaka sang Sāmaṇḍaka — và đổi chỗ ngồi.
Và điều ấy không phải ngẫu nhiên, vì chính văn nói ra:
Hãy giảng rộng như Tương Ưng Jambukhādaka.
Đó là một câu chỉ dẫn, nằm ngay trong bản Pali, ở cuối bài đầu tiên. Và nó là một trong những câu quý nhất của cả bộ kinh — vì nó cho ta thấy thẳng cái cách bộ kinh này được dựng.
Người biên tập không viết lại. Họ ghi một câu trỏ: bài này giống bài kia. Và họ biết rằng người đọc biết bài kia.
Đó là một nền văn hóa truyền khẩu đang tự ý thức về chính nó. Và đó là lý do tương ưng này đáng đọc — không phải vì nội dung mới, mà vì cái cách nó được ghi lại.
Bối cảnh bài đầu:
Một thời, Tôn giả Sāriputta trú ở xứ Vajjī, tại Ukkacelā, trên bờ sông Gaṅgā.
Bờ sông Gaṅgā. Đó là một chi tiết địa lý, và nó không phải chi tiết vô nghĩa: Ukkacelā là một chỗ có thật, bên bờ sông, nơi các du sĩ hay tụ tập.
Một bậc trí ngồi bên bờ sông, và người ta đến hỏi. Đó là toàn bộ khung của tương ưng này.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāmaṇḍaka (Sāmaṇḍakasaṃyutta), tương ưng thứ 39.
Phẩm Sāmaṇḍaka (Sāmaṇḍakavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāmaṇḍaka.
Kinh Sāmaṇḍaka (Sāmaṇḍakasutta) — bài thứ một.
"Một thời, Tôn giả Sāriputta trú ở xứ Vajjī, tại Ukkacelā, trên bờ sông Gaṅgā.
Rồi du sĩ Sāmaṇḍaka đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta; đến rồi, chào hỏi thân thiện với Tôn giả Sāriputta.
Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, đáng nhớ, du sĩ Sāmaṇḍaka ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Sāmaṇḍaka nói với Tôn giả Sāriputta rằng:
Niết-bàn, Niết-bàn, này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy.
Niết-bàn ấy là gì, này hiền giả?
Này hiền giả, chính sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si —
ấy được gọi là Niết-bàn.
Nhưng này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để chứng ngộ Niết-bàn ấy không?
Này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để chứng ngộ Niết-bàn ấy.
Nhưng này hiền giả, con đường ấy là gì, sự thực hành ấy là gì để chứng ngộ Niết-bàn ấy?
Này hiền giả, chính con đường tám nhánh cao quý này để chứng ngộ Niết-bàn ấy, ấy là:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Này hiền giả, ấy là con đường, ấy là sự thực hành để chứng ngộ Niết-bàn ấy.
Thật là tốt lành, này hiền giả, con đường ấy; thật là tốt lành, sự thực hành ấy để chứng ngộ Niết-bàn ấy.
Và như vậy, này Tôn giả Sāriputta, là đủ để không phóng dật."
Bài thứ nhất.
[Chú thích: ở đây bản Pali ghi hãy giảng rộng như Tương Ưng Jambukhādaka — nghĩa là mười lăm bài tiếp theo của tương ưng này lặp lại đúng mười lăm câu hỏi ấy, chỉ đổi người hỏi và chỗ ngồi. Bản dịch dưới đây theo đúng chỉ dẫn ấy.]
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.