Tương Ưng Bộ · SN 35.71
Kinh Sáu Xứ Xúc (I)
Paṭhamachaphassāyatanasutta — bài thứ chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ chín mở bằng một lời tuyên bố rất mạnh:
Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào không biết rõ như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của sáu xứ xúc, thì đời sống phạm hạnh của vị ấy chưa được sống xong, vị ấy còn xa lìa pháp và luật này.
Rồi một tỳ-kheo có mặt trong hội chúng nói ra một điều rất thật:
Bạch Thế Tôn, ở đây con không còn hơi thở, con tuyệt vọng. Bạch Thế Tôn, vì con không biết rõ như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của sáu xứ xúc.
Đây là chỗ bài kinh trở nên rất người. Một vị tu không giả vờ hiểu. Vị ấy nói thẳng: con không biết, và điều đó làm con kiệt sức.
Và cách Đức Thế Tôn trả lời đáng để học. Ngài không giảng lại năm điều kia. Ngài không đưa ra một bài pháp về sinh khởi và chấm dứt. Ngài hỏi một câu hỏi ngược:
Ngươi nghĩ thế nào: ngươi nhìn con mắt như vầy — 'Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi'?
Vị ấy đáp: không.
Lành thay. Nhưng ở đây ngươi hãy thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh rằng con mắt 'không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi'. Như vậy, này tỳ-kheo, đây là chỗ tận cùng của khổ.
Bài không dạy năm điều ấy. Nó dạy rằng một chỗ — chỗ nhìn con mắt — là đủ để chạm tới chỗ tận cùng của khổ. Năm điều kia không phải năm việc phải học thuộc; chúng là năm mặt của một cái thấy.
Và vị tỳ-kheo ấy không tuyệt vọng nữa, vì cái Ngài cần không phải biết thêm, mà là thấy khác đi ở đúng một chỗ.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Migajāla (Migajālavagga) — phẩm thứ bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Sáu Xứ Xúc (I) (Paṭhamachaphassāyatanasutta) — bài thứ chín.
"Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào không biết rõ như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của sáu xứ xúc,
thì đời sống phạm hạnh của vị ấy chưa được sống xong, vị ấy còn xa lìa pháp và luật này.
Khi nghe vậy, một tỳ-kheo bạch Đức Thế Tôn rằng:
Bạch Thế Tôn, ở đây con không còn hơi thở, con tuyệt vọng.
Bạch Thế Tôn, vì thì con không biết rõ như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của sáu xứ xúc.
Này tỳ-kheo, ngươi nghĩ thế nào:
ngươi nhìn con mắt như vầy: 'Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi'?
Bạch Thế Tôn, không phải vậy.
Này tỳ-kheo, lành thay. Nhưng này tỳ-kheo, ở đây ngươi hãy thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh rằng con mắt 'không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi'.
Như vậy, này tỳ-kheo, Đây là chỗ tận cùng của khổ.
Cũng vậy với lưỡi: ngươi nhìn lưỡi như vầy: 'Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi'?
Bạch Thế Tôn, không phải vậy.
Này tỳ-kheo, lành thay. Nhưng này tỳ-kheo, ở đây ngươi hãy thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh rằng lưỡi 'không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi'.
Như vậy, này tỳ-kheo, Đây là chỗ tận cùng của khổ.
Cũng vậy với ý: ngươi nhìn ý như vầy: 'Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi'?
Bạch Thế Tôn, không phải vậy.
Này tỳ-kheo, lành thay. Nhưng này tỳ-kheo, ở đây ngươi hãy thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh rằng ý 'không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi'.
Như vậy, này tỳ-kheo, Đây là chỗ tận cùng của khổ."
Bài thứ chín.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.