Tương Ưng Bộ · SN 22.50
Kinh Soṇa (II)
Dutiyasoṇasutta — bài thứ tám
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Soṇa (II) (Dutiyasoṇasutta) quay lại với gia chủ Soṇa, nhưng lần này câu hỏi là: thế nào là một sa-môn thật?
Này Soṇa, có những sa-môn hay bà-la-môn không hiểu sắc, không hiểu sự sinh khởi của sắc, không hiểu sự chấm dứt của sắc, không hiểu con đường đưa đến sự chấm dứt của sắc... Ta không xem họ là những sa-môn, bà-la-môn thật.
Rồi nhóm thứ hai: những vị hiểu đủ bốn điều ấy — cái ấy là gì, nó từ đâu sinh, nó chấm dứt ở đâu, và con đường đưa đến chỗ chấm dứt — thì được xem là thật.
Bốn câu ấy chính là khuôn của Tứ Diệu Đế, áp lên từng uẩn: khổ, tập, diệt, đạo. Bài này không dùng những chữ ấy, nhưng cấu trúc y hệt.
Điều đáng chú ý là tiêu chí ở đây rất khắt khe: không phải "sống đời sa-môn", không phải "mặc áo", mà là hiểu trọn bốn mặt của năm uẩn. Đó là lý do bài này đứng ngay sau 22.49: bài trước nói cái không phải là thấy đúng, bài này nói cái phải là hiểu đúng.
Một chi tiết nhỏ mà hay: Soṇa là một gia chủ — không phải tỳ-kheo. Và Đức Thế Tôn dạy ông ấy y hệt những gì dạy chư tăng.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.
Phẩm Tự Làm Hòn Đảo (Attadīpavagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Uẩn.
Kinh Soṇa (II) (Dutiyasoṇasutta) — bài thứ tám.
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha, trong rừng Trúc, nơi nuôi dưỡng sóc.
Rồi gia chủ Soṇa đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn nói với gia chủ Soṇa:
"Này Soṇa, có những sa-môn hay bà-la-môn không hiểu sắc, không hiểu sự sinh khởi của sắc, không hiểu sự chấm dứt của sắc, không hiểu con đường đưa đến sự chấm dứt của sắc.
Họ không hiểu thọ, không hiểu sự sinh khởi của thọ, không hiểu sự chấm dứt của thọ, không hiểu con đường đưa đến sự chấm dứt của thọ.
Họ không hiểu tưởng, không hiểu sự sinh khởi của tưởng, không hiểu sự chấm dứt của tưởng, không hiểu con đường đưa đến sự chấm dứt của tưởng.
Họ không hiểu các hành, không hiểu sự sinh khởi của các hành, không hiểu sự chấm dứt của các hành, không hiểu con đường đưa đến sự chấm dứt của các hành.
Họ không hiểu thức, không hiểu sự sinh khởi của thức, không hiểu sự chấm dứt của thức, không hiểu con đường đưa đến sự chấm dứt của thức.
Này Soṇa, ta không xem họ là những sa-môn, bà-la-môn thật. Những vị ấy chưa tự chứng ngay trong đời này, bằng thắng trí, mục đích của đời sống sa-môn, cũng chưa an trú trong đó.
Nhưng này Soṇa, có những sa-môn hay bà-la-môn hiểu sắc, hiểu sự sinh khởi của sắc, hiểu sự chấm dứt của sắc, hiểu con đường đưa đến sự chấm dứt của sắc.
Họ hiểu thọ, hiểu sự sinh khởi của thọ, hiểu sự chấm dứt của thọ, hiểu con đường đưa đến sự chấm dứt của thọ.
Họ hiểu tưởng, hiểu sự sinh khởi của tưởng, hiểu sự chấm dứt của tưởng, hiểu con đường đưa đến sự chấm dứt của tưởng.
Họ hiểu các hành, hiểu sự sinh khởi của các hành, hiểu sự chấm dứt của các hành, hiểu con đường đưa đến sự chấm dứt của các hành.
Họ hiểu thức, hiểu sự sinh khởi của thức, hiểu sự chấm dứt của thức, hiểu con đường đưa đến sự chấm dứt của thức.
Này Soṇa, ta xem họ là những sa-môn, bà-la-môn thật. Những vị ấy đã tự chứng ngay trong đời này, bằng thắng trí, mục đích của đời sống sa-môn, và an trú trong đó.
Kinh Soṇa (II), bài thứ tám, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.