buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.106

Kinh Sự Sinh Khởi Của Khổ

Dukkhasamudayasutta — bài thứ ba

4 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ ba đưa Tương Ưng Sáu Xứ vào lãnh thổ của duyên khởi, và nó làm việc ấy một cách rất tiết kiệm.

Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các vị về sự sinh khởi và sự chấm dứt của khổ.

Sự sinh khởi, trong bài này, chỉ có ba mắt xích:

Do duyên con mắt và duyên các sắc mà nhãn thức sinh khởi. Ba pháp gặp nhau là xúc. Do duyên xúc mà có cảm thọ; do duyên cảm thọ mà có ái.

Xúc, thọ, ái. Ba mắt xích. Và bài dừng ở đó — nó không đi tiếp tới chấp thủ, hữu, sinh.

Đó là một lựa chọn có chủ ý. Bài này chỉ ra chỗ mà khổ bắt đầu: từ xúc tới thọ, từ thọ tới ái. Chỉ ba bước, và bước thứ ba là bước mà ta có thể không bước.

Sự chấm dứt thì bài nói dài hơn — nó đi trọn chuỗi:

Chính ái ấy được ly tham hoàn toàn, chấm dứt không còn dư tàn, thì chấp thủ chấm dứt; do chấp thủ chấm dứt mà hữu chấm dứt; do hữu chấm dứt mà sinh chấm dứt; do sinh chấm dứt mà già và chết, cùng sầu, bi, khổ, ưu, não đều chấm dứt.

Và câu chốt: "Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này."

Có một sự bất đối xứng đáng chú ý ở đây: phần sinh khởi chỉ ba bước, phần chấm dứt đi hết chuỗi. Và sự bất đối xứng ấy không phải lỗi của người chép kinh.

Nó nói rằng: khởi lên thì ngắn, chấm dứt thì dài. Vì để một cái khổ khởi lên chỉ cần một lần chạm; để nó chấm dứt thì phải đi hết cả con đường.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm An Ổn Khỏi Ách (Yogakkhemivagga) — phẩm thứ một của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Sự Sinh Khởi Của Khổ (Dukkhasamudayasutta) — bài thứ ba.


"Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các vị về sự sinh khởi và sự chấm dứt của khổ.

Hãy nghe cho kỹ.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là sự sinh khởi của khổ?

Do duyên con mắt và duyên các sắc mà nhãn thức sinh khởi. Ba pháp gặp nhau là xúc.

Do duyên xúc mà có cảm thọ;

do duyên cảm thọ mà có ái.

Này các tỳ-kheo, đấy là sự sinh khởi của khổ. Cũng vậy với tai, mũi, thân.

Do duyên lưỡi và duyên các vị mà thiệt thức sinh khởi. Ba pháp gặp nhau là xúc.

Do duyên xúc mà có cảm thọ;

do duyên cảm thọ mà có ái.

Này các tỳ-kheo, đấy là sự sinh khởi của khổ. Cũng vậy, do duyên ý và duyên các pháp mà ý thức sinh khởi.

Ba pháp gặp nhau là xúc.

Do duyên xúc mà có cảm thọ;

do duyên cảm thọ mà có ái.

Này các tỳ-kheo, đấy là sự sinh khởi của khổ.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là sự chấm dứt của khổ?

Do duyên con mắt và duyên các sắc mà nhãn thức sinh khởi. Ba pháp gặp nhau là xúc.

Do duyên xúc mà có cảm thọ;

do duyên cảm thọ mà có ái.

Chính ái ấy được ly tham hoàn toàn, chấm dứt không còn dư tàn, thì chấp thủ chấm dứt;

do chấp thủ chấm dứt mà hữu chấm dứt;

do hữu chấm dứt mà sinh chấm dứt;

do sinh chấm dứt mà già và chết, cùng sầu, bi, khổ, ưu, não đều chấm dứt.

Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này.

Này các tỳ-kheo, đấy là sự chấm dứt của khổ. Cũng vậy với tai, mũi, thân.

Cũng vậy, do duyên lưỡi và duyên các vị mà thiệt thức sinh khởi, và cứ thế cho đến ý.

Do duyên ý và duyên các pháp mà ý thức sinh khởi. Ba pháp gặp nhau là xúc.

Do duyên xúc mà có cảm thọ;

do duyên cảm thọ mà có ái.

Chính ái ấy được ly tham hoàn toàn, chấm dứt không còn dư tàn, thì chấp thủ chấm dứt;

do chấp thủ chấm dứt mà hữu chấm dứt;

do hữu chấm dứt mà sinh chấm dứt;

do sinh chấm dứt mà già và chết, cùng sầu, bi, khổ, ưu, não đều chấm dứt.

Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này.

Này các tỳ-kheo, đấy là sự chấm dứt của khổ."

Bài thứ ba.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →