Tương Ưng Bộ · SN 22.72
Kinh Surādha
Surādhasutta — bài thứ mười
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Surādha (Surādhasutta) là bài cuối phẩm, và nó đổi một chữ then chốt so với bài trước.
Rādha hỏi: làm sao để không còn dựng lên "tôi" và "của tôi"? Surādha hỏi: làm sao để tâm được thoát khỏi "tôi", "của tôi" và ngã mạn?
Này Surādha, thấy đúng như thật rồi thì được giải thoát không còn chấp thủ.
Cùng một công thức, nhưng bài này nhấn vào kết quả: giải thoát, không chỉ là hết dựng. Và tiêu chí ở đây là "tâm được thoát khỏi ngã mạn đối với thân có thức này, đối với mọi dấu hiệu bên ngoài".
Bài kệ tóm tắt cuối phẩm ghi lại mười bài vừa đọc — từ chấp thủ, tưởng tượng, thích thú, qua bộ ba vô thường–khổ–vô ngã, đến hai bài Rādha.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.
Phẩm A-la-hán (Arahantavagga) — phẩm thứ bảy của Tương Ưng Uẩn.
Kinh Surādha (Surādhasutta) — bài thứ mười.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
Bấy giờ Tôn giả Surādha đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên, và bạch Ngài:
"Bạch Thế Tôn, phải biết và thấy thế nào để tâm được thoát khỏi sự dựng lên 'tôi', sự dựng lên 'của tôi', và ngã mạn đối với thân có thức này và đối với mọi dấu hiệu bên ngoài?"
"Này Surādha, sắc gì cũng vậy — quá khứ, vị lai hay hiện tại; trong hay ngoài; thô hay tế; thấp hay cao; xa hay gần — hết thảy sắc ấy hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
thọ gì cũng vậy — quá khứ, vị lai hay hiện tại; trong hay ngoài; thô hay tế; thấp hay cao; xa hay gần — hết thảy thọ ấy hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
tưởng gì cũng vậy — quá khứ, vị lai hay hiện tại; trong hay ngoài; thô hay tế; thấp hay cao; xa hay gần — hết thảy tưởng ấy hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
các hành gì cũng vậy — quá khứ, vị lai hay hiện tại; trong hay ngoài; thô hay tế; thấp hay cao; xa hay gần — hết thảy các hành ấy hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
thức gì cũng vậy — quá khứ, vị lai hay hiện tại; trong hay ngoài; thô hay tế; thấp hay cao; xa hay gần — hết thảy thức ấy hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
Thấy đúng như thật như vậy, này Surādha, vị ấy được giải thoát không còn chấp thủ đối với sắc, thọ, tưởng, các hành và thức.
Được giải thoát nên biết rằng: 'Ta đã được giải thoát.'
Vị ấy hiểu rằng: 'Sinh đã tận, phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì nữa cho đời này.'
Đó là cách biết và thấy để tâm được thoát khỏi sự dựng lên 'tôi', sự dựng lên 'của tôi', và ngã mạn đối với thân có thức này và đối với mọi dấu hiệu bên ngoài."
Và Tôn giả Surādha trở thành một trong những bậc a-la-hán.
Kinh Surādha, bài thứ mười, đến đây là hết.
Phẩm A-la-hán, phẩm thứ hai của Phần Năm Mươi Giữa, đến đây là hết.
Kệ tóm tắt phẩm:
Khi chấp thủ, khi tưởng tượng,
và khi thích thú;
vô thường, khổ, vô ngã,
không thuộc về tự ngã, bị khuấy động;
Rādha và Surādha — mười bài là vậy.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.