Tương Ưng Bộ · SN 56.8
Kinh Suy Xét
Cintasutta — bài kinh về những câu hỏi lớn
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Suy Xét (Cintasutta) là bài thứ tám của Tương Ưng Tứ Đế, và là bài thứ hai liên tiếp nói về chuyện trong đầu.
Bài bảy cảnh báo ba loại ý nghĩ thô — dục, sân, hại. Bài này nhắm vào loại tinh vi hơn: những câu hỏi lớn về vũ trụ và về số phận sau khi chết. Mười câu được nêu: thế giới thường còn hay không thường còn, hữu biên hay vô biên; linh hồn và thân là một hay là hai; và bốn cách nói về Như Lai sau khi chết — có, không, vừa có vừa không, không có cũng không không có.
Đây chính là mười câu hỏi mà du sĩ Vacchagotta và nhiều người khác đã hỏi Đức Thế Tôn, và Ngài đã im lặng trước những câu ấy. Bài kinh này nói rõ lý do của sự im lặng: không phải vì không biết, mà vì những câu ấy không dẫn đi đâu — cũng đúng cái thước đo của bài trước.
Đáng chú ý là kinh không cấm tìm hiểu những câu ấy. Nó cấm suy xét — cái việc ngồi nhai đi nhai lại một câu hỏi không có cách trả lời trong đời này. Giữa hai việc ấy có một khoảng rộng, và bài kinh để người đọc tự đứng trong khoảng ấy.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Tứ Đế (Saccasaṃyutta), tương ưng thứ 56.
Phẩm Định (Samādhivagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Tứ Đế.
Kinh Suy Xét (Cintasutta) — bài thứ tám.
"Này các tỳ-kheo, chớ có suy xét những tư tưởng xấu ác, bất thiện:
'thế giới là thường còn' hay 'thế giới là không thường còn', 'thế giới là hữu biên' hay 'thế giới là vô biên', 'linh hồn và thân là một' hay 'linh hồn và thân là khác', 'Như Lai có tồn tại sau khi chết' hay 'Như Lai không tồn tại sau khi chết' hay 'Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết' hay 'Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết'.
Vì sao vậy?
Này các tỳ-kheo, sự suy xét ấy không có ích, không thuộc nền tảng của đời sống phạm hạnh, không dẫn đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Còn khi các ông suy xét, này các tỳ-kheo, hãy suy xét: 'Đây là khổ'; hãy suy xét: 'Đây là nguồn gốc của khổ'; hãy suy xét: 'Đây là sự chấm dứt của khổ'; hãy suy xét: 'Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ'.
Vì sao vậy?
Này các tỳ-kheo, sự suy xét ấy có ích, thuộc nền tảng của đời sống phạm hạnh, dẫn đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Vậy nên, này các tỳ-kheo, hãy nỗ lực để biết như thật: 'Đây là khổ'; hãy nỗ lực để biết như thật: 'Đây là nguồn gốc của khổ'; hãy nỗ lực để biết như thật: 'Đây là sự chấm dứt của khổ'; hãy nỗ lực để biết như thật: 'Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ'."
Kinh Suy Xét, bài thứ tám, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.