buppou

Tương Ưng Bộ · SN 14.28

Kinh Tám Chi

Aṭṭhaṅgikasutta — bài thứ hai mươi tám

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ hai mươi tám đổi hẳn cách liệt kê: không còn là những việc làm riêng lẻ, mà là tám chi của con đường — và lần này ở dạng tà.

Những người có tà kiến thì hòa hợp và gặp nhau với những người có tà kiến; những người có tà tư duy thì hòa hợp và gặp nhau với những người có tà tư duy; cho đến những người có tà định thì hòa hợp và gặp nhau với những người có tà định.

Tám chi ấy là một cấu trúc, không phải một danh sách. Kiến đứng đầu, định đứng cuối, và giữa chúng là lời nói, việc làm, cách sống, nỗ lực, ghi nhớ.

Điều đáng chú ý là bản tà cũng có đủ tám chi. Một người có thể có một con đường hoàn chỉnh mà vẫn đi sai — và điều ấy đòi hỏi con đường ấy phải có cấu trúc, không chỉ có những mảnh rời.

Bài kinh không giải thích tại sao. Nó chỉ cho thấy cấu trúc ấy, và để người đọc thấy rằng một con đường sai cũng có thể rất có tổ chức.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giới (Dhātusaṃyutta), tương ưng thứ 14.

Phẩm Con Đường Nghiệp (Kammapathavagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Giới.

Kinh Tám Chi (Aṭṭhaṅgikasutta) — bài thứ hai mươi tám.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, chúng sinh hòa hợp và gặp nhau đúng theo giới của mình.

Những người có tà kiến thì hòa hợp và gặp nhau với những người có tà kiến;

những người có tà tư duy thì hòa hợp và gặp nhau với những người có tà tư duy;

những người có tà ngữ thì hòa hợp và gặp nhau với những người có tà ngữ;

những người có tà nghiệp thì hòa hợp và gặp nhau với những người có tà nghiệp;

những người có tà mạng thì hòa hợp và gặp nhau với những người có tà mạng;

những người có tà tinh tấn thì hòa hợp và gặp nhau với những người có tà tinh tấn;

những người có tà niệm thì hòa hợp và gặp nhau với những người có tà niệm;

những người có tà định thì hòa hợp và gặp nhau với những người có tà định.

Những người có chánh kiến thì hòa hợp và gặp nhau với những người có chánh kiến;

những người có chánh tư duy thì hòa hợp và gặp nhau với những người có chánh tư duy;

những người có chánh ngữ thì hòa hợp và gặp nhau với những người có chánh ngữ;

những người có chánh nghiệp thì hòa hợp và gặp nhau với những người có chánh nghiệp;

những người có chánh mạng thì hòa hợp và gặp nhau với những người có chánh mạng;

những người có chánh tinh tấn thì hòa hợp và gặp nhau với những người có chánh tinh tấn;

những người có chánh niệm thì hòa hợp và gặp nhau với những người có chánh niệm;

những người có chánh định thì hòa hợp và gặp nhau với những người có chánh định."

Bài thứ hai mươi tám.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →