buppou

Tương Ưng Bộ · SN 45.21

Kinh Tánh Tà

Micchattasutta — bài thứ hai mươi mốt

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Tánh Tà (Micchattasutta) mở đầu phẩm thứ ba bằng một cặp từ vựng: micchatta và sammatta — "cái sai" và "cái đúng", hiểu như hai tánh, hai cách đặt toàn bộ con người.

Bài kinh không giải thích gì thêm. Nó chỉ đặt hai danh sách cạnh nhau: tám nhánh sai, rồi tám nhánh đúng.

Chỗ đáng để ý là chữ tánh: nó không nói "tám điều sai" mà nói "cái sai" như một thể thống nhất. Tám nhánh ấy không phải tám lỗi riêng lẻ — chúng là một kiểu đứng trong các pháp, và kiểu đứng ấy đổi thì cả tám đổi theo.

Đây là bài mở đường cho chín bài tiếp theo của phẩm, mỗi bài lặp lại hai danh sách này với một cái nhãn khác.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 45.

Phẩm Tà (Micchattavagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Đạo.

Kinh Tánh Tà (Micchattasutta) — bài thứ hai mươi mốt.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ).

"Này các tỳ-kheo, ta sẽ giảng cho các ông về tánh tà (micchatta) và tánh chánh (sammatta).

Hãy nghe.

Và này các tỳ-kheo, tánh tà là gì?

Đó là: tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định.

Này các tỳ-kheo, đó gọi là tánh tà.

Và này các tỳ-kheo, tánh chánh là gì?

Đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Này các tỳ-kheo, đó gọi là tánh chánh.

Kinh Tánh Tà, bài thứ hai mươi mốt, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →