Tương Ưng Bộ · SN 46.32
Kinh Thiện (Hai)
Dutiyakusalasutta — bài thứ ba mươi hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Phẩm thứ tư, mười bài, đặt bảy giác chi bên cạnh năm triền cái để so.
Các pháp thiện đều lấy như lý tác ý làm gốc.
Bài kinh không giải thích vì sao, chỉ nói rằng đúng là như vậy.
Bài này tên là Kinh Thiện (Hai). Đây là bài thứ ba mươi hai trong một trăm tám mươi bốn bài của tương ưng, nằm ở Phẩm Triền Cái.
Không có gì mới để hiểu, chỉ có một điều để làm.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.
Phẩm Triền Cái (Nīvaraṇavagga) — phẩm thứ bốn của Tương Ưng Giác Chi.
Kinh Thiện (Hai) (Dutiyakusalasutta) — bài thứ ba mươi hai.
"Này các tỳ-kheo, phàm có những pháp nào là thiện, thuộc phần thiện, thuộc phe thiện, tất cả đều lấy như lý tác ý làm gốc, đều hội tụ về như lý tác ý; như lý tác ý được gọi là bậc tối thượng trong các pháp ấy.
Này các tỳ-kheo, có thể chờ đợi điều này nơi vị tỳ-kheo thành tựu như lý tác ý: vị ấy sẽ tu tập bảy giác chi, sẽ thực hành nhiều bảy giác chi.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo thành tựu như lý tác ý tu tập bảy giác chi, thực hành nhiều bảy giác chi?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập trạch pháp giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập tinh tấn giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập hỷ giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập khinh an giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập định giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ;
tu tập xả giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo thành tựu như lý tác ý tu tập bảy giác chi, thực hành nhiều bảy giác chi."
Bài thứ ba mươi hai.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.