Tương Ưng Bộ · SN 46.31
Kinh Thiện (Một)
Paṭhamakusalasutta — bài thứ ba mươi mốt
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Đây là phẩm nói nhiều nhất về năm triền cái.
Các pháp thiện đều lấy không dễ duôi làm gốc, và không dễ duôi là bậc tối thượng trong đó.
Cách trình bày ở đây rất tiết kiệm: một hình ảnh, một câu hỏi, một câu trả lời, hết.
Bài này tên là Kinh Thiện (Một). Đây là bài thứ ba mươi mốt trong một trăm tám mươi bốn bài của tương ưng, nằm ở Phẩm Triền Cái.
Đọc xong bài này, điều còn lại chỉ là một câu để nhớ.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.
Phẩm Triền Cái (Nīvaraṇavagga) — phẩm thứ bốn của Tương Ưng Giác Chi.
Kinh Thiện (Một) (Paṭhamakusalasutta) — bài thứ ba mươi mốt.
"Này các tỳ-kheo, phàm có những pháp nào là thiện, thuộc phần thiện, thuộc phe thiện, tất cả đều lấy không dễ duôi làm gốc, đều hội tụ về không dễ duôi; không dễ duôi được gọi là bậc tối thượng trong các pháp ấy.
Này các tỳ-kheo, có thể chờ đợi điều này nơi vị tỳ-kheo không dễ duôi: vị ấy sẽ tu tập bảy giác chi, sẽ thực hành nhiều bảy giác chi.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo không dễ duôi tu tập bảy giác chi, thực hành nhiều bảy giác chi?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập trạch pháp giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập tinh tấn giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập hỷ giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập khinh an giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập định giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ;
tu tập xả giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo không dễ duôi tu tập bảy giác chi, thực hành nhiều bảy giác chi."
Bài thứ ba mươi mốt.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.