buppou

Tương Ưng Bộ · SN 52.23

Kinh Thiên Nhãn

Dibbacakkhusutta — bài thứ hai mươi ba

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài hai mươi ba là thiên nhãn minh, và nó là bài dài nhất trong ba bài cuối.

Ta thấy các chúng sinh đang chết và đang sinh ra, hạ liệt và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh; Ta biết các chúng sinh ấy đi theo nghiệp của họ.

Rồi bài kinh đưa ra hai trường hợp, và chúng đối xứng hoàn toàn: kẻ làm ác bằng thân, lời, ý, chỉ trích bậc thánh, có tà kiến — sinh vào cõi dữ; kẻ làm thiện bằng thân, lời, ý, không chỉ trích bậc thánh, có chánh kiến — sinh vào cõi lành.

Cấu trúc ấy gói toàn bộ giáo lý về nghiệp vào một câu, và nó là chỗ duy nhất trong phẩm này Anuruddha nói về địa ngục và cõi trời.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Anuruddha (Anuruddhasaṃyutta), tương ưng thứ 52.

Phẩm Hai (Dutiyavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Anuruddha.

Kinh Thiên Nhãn (Dibbacakkhusutta) — bài thứ hai mươi ba.


"Này các hiền giả, cũng nhờ tu tập và làm cho sung mãn bốn niệm xứ ấy mà Ta với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn mắt người, Ta thấy các chúng sinh đang chết và đang sinh ra, hạ liệt và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh; Ta biết các chúng sinh ấy đi theo nghiệp của họ: Những chúng sinh này đã làm ác bằng thân, đã làm ác bằng lời, đã làm ác bằng ý; đã chỉ trích các bậc thánh; có tà kiến, tạo nghiệp do tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sinh này đã làm thiện bằng thân, đã làm thiện bằng lời, đã làm thiện bằng ý; không chỉ trích các bậc thánh; có chánh kiến, tạo nghiệp do chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi lành, cõi trời. Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn mắt người, Ta thấy các chúng sinh đang chết và đang sinh ra, và biết các chúng sinh ấy đi theo nghiệp của họ."

Bài thứ hai mươi ba.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →