Tương Ưng Bộ · SN 16.9
Kinh Thiền Và Thắng Trí
Jhānābhiññasutta — bài thứ chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ chín có một hình thức rất đặc biệt: mười lăm lần, cùng một câu được nói hai lần.
Này các tỳ-kheo, khi Ta muốn, Ta ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ thiền — có tầm, có tứ, có hỷ và lạc sinh ra từ sự viễn ly. Kassapa, này các tỳ-kheo, khi muốn, cũng ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ thiền — có tầm, có tứ, có hỷ và lạc sinh ra từ sự viễn ly.
Cấu trúc ấy lặp lại cho bốn thiền, bốn xứ vô sắc, diệt thọ tưởng định, thần thông, thiên nhĩ, tha tâm, túc mệnh, thiên nhãn, và cuối cùng là đoạn tận lậu hoặc.
Đọc liền một mạch, người ta thấy đây không phải một bài kinh dạy giáo lý, mà là một bản tuyên bố. Nó nói: những gì Đức Thế Tôn có thể làm, Kassapa cũng có thể làm.
Và nó có một lý do để tồn tại. Trong phẩm này, Kassapa là người bị nghi ngờ — vì xuất thân từ ngoại đạo, vì sống quá khắc khổ, vì dám giáo huấn cả những người lớn tuổi hơn. Bài kinh này là lời đáp cho những nghi ngờ ấy, và nó không đáp bằng lập luận mà bằng một danh sách.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Kassapa (Kassapasaṃyutta), tương ưng thứ 16.
Phẩm Kassapa (Kassapavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Kassapa.
Kinh Thiền Và Thắng Trí (Jhānābhiññasutta) — bài thứ chín.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, khi Ta muốn, Ta ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ thiền — có tầm, có tứ, có hỷ và lạc sinh ra từ sự viễn ly.
Kassapa, này các tỳ-kheo, khi Kassapa muốn, cũng ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ thiền — có tầm, có tứ, có hỷ và lạc sinh ra từ sự viễn ly.
Này các tỳ-kheo, khi Ta muốn, Ta làm lắng dịu tầm và tứ, đạt được sự an tịnh bên trong, đạt được sự nhất tâm của tâm, chứng đạt và an trú nhị thiền — không tầm, không tứ, có hỷ và lạc sinh ra từ định.
Kassapa, này các tỳ-kheo, khi Kassapa muốn, cũng làm lắng dịu tầm và tứ, chứng đạt và an trú nhị thiền — không tầm, không tứ, có hỷ và lạc sinh ra từ định.
Này các tỳ-kheo, khi Ta muốn, Ta ly hỷ, sống xả, có chánh niệm và tỉnh giác, cảm thọ lạc bằng thân, chứng đạt và an trú tam thiền — điều mà các bậc thánh nói là: sống an lạc với tâm xả và chánh niệm.
Kassapa, này các tỳ-kheo, khi Kassapa muốn, cũng ly hỷ, sống xả, có chánh niệm và tỉnh giác, cảm thọ lạc bằng thân, chứng đạt và an trú tam thiền — điều mà các bậc thánh nói là: sống an lạc với tâm xả và chánh niệm.
Này các tỳ-kheo, khi Ta muốn, Ta từ bỏ lạc, từ bỏ khổ, và trước đó đã làm lắng dịu hỷ và ưu, chứng đạt và an trú tứ thiền — không khổ, không lạc, có xả và chánh niệm hoàn toàn thanh tịnh.
Kassapa, này các tỳ-kheo, khi Kassapa muốn, cũng từ bỏ lạc, từ bỏ khổ, chứng đạt và an trú tứ thiền — không khổ, không lạc, có xả và chánh niệm hoàn toàn thanh tịnh.
Này các tỳ-kheo, khi Ta muốn, Ta vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, làm lắng dịu các tưởng về sự chống đối, không tác ý đến các tưởng sai biệt, chứng đạt và an trú không gian vô biên xứ với ý nghĩ: hư không là vô biên.
Kassapa, này các tỳ-kheo, khi Kassapa muốn, cũng vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, chứng đạt và an trú không gian vô biên xứ.
Này các tỳ-kheo, khi Ta muốn, Ta vượt qua hoàn toàn không gian vô biên xứ, chứng đạt và an trú thức vô biên xứ với ý nghĩ: thức là vô biên.
Kassapa, này các tỳ-kheo, khi Kassapa muốn, cũng vượt qua hoàn toàn không gian vô biên xứ, chứng đạt và an trú thức vô biên xứ.
Này các tỳ-kheo, khi Ta muốn, Ta vượt qua hoàn toàn thức vô biên xứ, chứng đạt và an trú vô sở hữu xứ với ý nghĩ: không có gì cả.
Kassapa, này các tỳ-kheo, khi Kassapa muốn, cũng chứng đạt và an trú vô sở hữu xứ.
Này các tỳ-kheo, khi Ta muốn, Ta vượt qua hoàn toàn vô sở hữu xứ, chứng đạt và an trú phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Kassapa, này các tỳ-kheo, khi Kassapa muốn, cũng chứng đạt và an trú phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Này các tỳ-kheo, khi Ta muốn, Ta vượt qua hoàn toàn phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú diệt thọ tưởng định.
Kassapa, này các tỳ-kheo, khi Kassapa muốn, cũng chứng đạt và an trú diệt thọ tưởng định.
Này các tỳ-kheo, khi Ta muốn, Ta thực hiện nhiều loại thần thông: khi là một, Ta thành nhiều; khi là nhiều, Ta thành một; hiện ra, ẩn mất; đi xuyên qua tường, xuyên qua thành, xuyên qua núi mà không bị cản trở, như đi trong hư không; lặn xuống và trồi lên trong đất, như trong nước; đi trên nước mà không chìm, như đi trên đất; ngồi xếp bằng bay trong hư không, như con chim có cánh; chạm và sờ mặt trăng và mặt trời bằng tay, những vật có uy lực lớn như vậy; và Ta có thể dùng thân đi đến cõi Phạm thiên.
Kassapa, này các tỳ-kheo, khi Kassapa muốn, cũng thực hiện nhiều loại thần thông: khi là một, ông ấy thành nhiều; khi là nhiều, ông ấy thành một; hiện ra, ẩn mất; đi xuyên qua tường, xuyên qua thành, xuyên qua núi mà không bị cản trở, như đi trong hư không; lặn xuống và trồi lên trong đất, như trong nước; đi trên nước mà không chìm, như đi trên đất; ngồi xếp bằng bay trong hư không, như con chim có cánh; chạm và sờ mặt trăng và mặt trời bằng tay, những vật có uy lực lớn như vậy; và ông ấy có thể dùng thân đi đến cõi Phạm thiên.
Này các tỳ-kheo, khi Ta muốn, Ta nghe được hai loại âm thanh — của chư thiên và của loài người, ở xa và ở gần — bằng thiên nhĩ giới thanh tịnh, vượt hơn tai người.
Kassapa, này các tỳ-kheo, khi Kassapa muốn, cũng nghe được hai loại âm thanh — của chư thiên và của loài người, ở xa và ở gần — bằng thiên nhĩ giới thanh tịnh, vượt hơn tai người.
Này các tỳ-kheo, khi Ta muốn, Ta biết được tâm của các chúng sinh khác, của những người khác, sau khi dùng tâm của mình bao trùm tâm của họ:
Ta biết tâm có tham là tâm có tham;
Ta biết tâm không có tham là tâm không có tham;
Ta biết tâm có sân là tâm có sân;
Ta biết tâm không có sân là tâm không có sân;
Ta biết tâm có si là tâm có si;
Ta biết tâm không có si là tâm không có si;
Ta biết tâm thu lại là tâm thu lại;
Ta biết tâm tán loạn là tâm tán loạn;
Ta biết tâm rộng lớn là tâm rộng lớn;
Ta biết tâm không rộng lớn là tâm không rộng lớn;
Ta biết tâm còn có cái cao hơn là tâm còn có cái cao hơn;
Ta biết tâm không còn có cái cao hơn là tâm không còn có cái cao hơn;
Ta biết tâm được định là tâm được định;
Ta biết tâm không được định là tâm không được định;
Ta biết tâm được giải thoát là tâm được giải thoát;
Ta biết tâm không được giải thoát là tâm không được giải thoát.
Kassapa, này các tỳ-kheo, khi Kassapa muốn, cũng biết được tâm của các chúng sinh khác, của những người khác, sau khi dùng tâm của mình bao trùm tâm của họ:
Kassapa biết tâm có tham là tâm có tham; biết tâm không có tham là tâm không có tham; biết tâm có sân là tâm có sân; biết tâm không có sân là tâm không có sân; biết tâm có si là tâm có si; biết tâm không có si là tâm không có si; biết tâm thu lại là tâm thu lại; biết tâm tán loạn là tâm tán loạn; biết tâm rộng lớn là tâm rộng lớn; biết tâm không rộng lớn là tâm không rộng lớn; biết tâm còn có cái cao hơn là tâm còn có cái cao hơn; biết tâm không còn có cái cao hơn là tâm không còn có cái cao hơn; biết tâm được định là tâm được định; biết tâm không được định là tâm không được định; biết tâm được giải thoát là tâm được giải thoát;
Kassapa biết tâm không được giải thoát là tâm không được giải thoát.
Này các tỳ-kheo, khi Ta muốn, Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành và hoại — ở đó Ta có tên như vậy, dòng họ như vậy, màu da như vậy, thức ăn như vậy, cảm thọ lạc và khổ như vậy, tuổi thọ như vậy. Từ chỗ ấy chết đi, Ta sinh ra ở chỗ khác; ở chỗ ấy cũng có tên như vậy, dòng họ như vậy, màu da như vậy, thức ăn như vậy, cảm thọ lạc và khổ như vậy, tuổi thọ như vậy. Từ chỗ ấy chết đi, Ta sinh ra ở đây. Như vậy, Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các đặc điểm và các chi tiết.
Kassapa, này các tỳ-kheo, khi Kassapa muốn, cũng nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các đặc điểm và các chi tiết như vậy.
Này các tỳ-kheo, khi Ta muốn, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn mắt người, Ta thấy các chúng sinh đang chết và đang sinh ra, hạ liệt và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh; Ta biết các chúng sinh ấy đi theo nghiệp của họ: Những chúng sinh này, thưa các ngài, đã làm ác bằng thân, đã làm ác bằng lời, đã làm ác bằng ý; đã chỉ trích các bậc thánh; có tà kiến, tạo nghiệp do tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sinh này đã làm thiện bằng thân, đã làm thiện bằng lời, đã làm thiện bằng ý; không chỉ trích các bậc thánh; có chánh kiến, tạo nghiệp do chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi lành, cõi trời.
Kassapa, này các tỳ-kheo, khi Kassapa muốn, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn mắt người, cũng thấy các chúng sinh đang chết và đang sinh ra, và biết các chúng sinh ấy đi theo nghiệp của họ.
Này các tỳ-kheo, khi Ta muốn, Ta chứng đạt và an trú tâm giải thoát không còn lậu hoặc và tuệ giải thoát, sau khi tự mình chứng ngộ bằng thắng trí ngay trong đời này, nhờ sự đoạn tận các lậu hoặc.
Kassapa, này các tỳ-kheo, khi Kassapa muốn, cũng chứng đạt và an trú tâm giải thoát không còn lậu hoặc và tuệ giải thoát, sau khi tự mình chứng ngộ bằng thắng trí ngay trong đời này, nhờ sự đoạn tận các lậu hoặc."
Bài thứ chín.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.