Tương Ưng Bộ · SN 18.15
Kinh Thọ Thứ Hai
Vedanāsutta — bài thứ mười lăm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ mười lăm rút gọn bài về thọ.
Này Rāhula, ông nghĩ thế nào, thọ do nhãn xúc sanh là thường hay vô thường?
Trong phẩm thứ nhất, thọ được hỏi với đủ ba câu và đủ sáu loại. Ở đây cũng vậy, nhưng mỗi loại chỉ còn một dòng.
Điều ấy làm cho bài kinh đọc như một bản kiểm tra: người đọc đi qua sáu dòng và tự hỏi mình có còn nhớ ba câu hỏi ấy là gì không. Nếu nhớ, bài kinh đã làm xong việc của nó.
Chữ do nhãn xúc sanh vẫn là chữ quan trọng nhất. Nó nhắc rằng thọ không tự có; nó là kết quả của một lần gặp. Và một kết quả của một lần gặp thì không thể là một thứ thường còn.
Bài kinh không nói thêm. Nó không cần nói thêm. Người nghe đã nghe điều ấy mười bốn lần rồi.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rāhula (Rāhulasaṃyutta), tương ưng thứ 18.
Phẩm Thứ Hai (Dutiyavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Rāhula.
Kinh Thọ Thứ Hai (Vedanāsutta) — bài thứ mười lăm.
"Tại Sāvatthī.
Này Rāhula, ông nghĩ thế nào,
thọ do nhãn xúc sanh là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
thọ do nhĩ xúc sanh là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
thọ do tỉ xúc sanh là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
thọ do thiệt xúc sanh là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
thọ do thân xúc sanh là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
thọ do ý xúc sanh là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc? — Khổ, bạch Đức Thế Tôn.
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có hợp lý chăng khi xem xét nó như vầy: Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta? — Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.
Này Rāhula, bậc đa văn thánh đệ tử thấy như vậy thì nhàm chán đối với thọ do nhãn xúc sanh, nhàm chán đối với thọ do nhĩ xúc sanh, nhàm chán đối với thọ do tỉ xúc sanh, nhàm chán đối với thọ do thiệt xúc sanh, nhàm chán đối với thọ do thân xúc sanh, nhàm chán đối với thọ do ý xúc sanh; do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết rõ: Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa."
Bài thứ mười lăm.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.