buppou

Tương Ưng Bộ · SN 18.14

Kinh Xúc Thứ Hai

Samphassasutta — bài thứ mười bốn

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ mười bốn là bài về xúc trong bản rút gọn.

Này Rāhula, ông nghĩ thế nào, nhãn xúc là thường hay vô thường?

Cấu trúc giống hệt bài thứ tư, chỉ khác độ dài. Và chính vì thế mà bài này là một chỗ tốt để thấy cách tương ưng này được xây.

Mỗi bài trong phẩm thứ hai là một bản sao thu nhỏ của một bài trong phẩm thứ nhất. Không có ý mới, không có ví dụ mới, không có kết luận mới. Chỉ có cùng một việc được làm lại, nhanh hơn.

Trong một bộ kinh truyền miệng, đó là cách để giữ cho hàng trăm bài không bị lẫn. Người đọc thuộc khuôn, rồi chỉ cần nhớ chỗ nào được thay.

Nhưng nó cũng có một tác dụng khác, và có lẽ là tác dụng chính: khi một câu được nói lại bằng ít chữ hơn, người nghe buộc phải tự nói phần còn lại. Và phần tự nói ấy mới là phần đọng lại.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rāhula (Rāhulasaṃyutta), tương ưng thứ 18.

Phẩm Thứ Hai (Dutiyavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Rāhula.

Kinh Xúc Thứ Hai (Samphassasutta) — bài thứ mười bốn.


"Tại Sāvatthī.

Này Rāhula, ông nghĩ thế nào,

nhãn xúc là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

nhĩ xúc là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

tỉ xúc là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

thiệt xúc là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

thân xúc là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

ý xúc là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc? — Khổ, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có hợp lý chăng khi xem xét nó như vầy: Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta? — Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.

Này Rāhula, bậc đa văn thánh đệ tử thấy như vậy thì nhàm chán đối với nhãn xúc, nhàm chán đối với nhĩ xúc, nhàm chán đối với tỉ xúc, nhàm chán đối với thiệt xúc, nhàm chán đối với thân xúc, nhàm chán đối với ý xúc;

do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết rõ: Ta đã được giải thoát.

Vị ấy biết rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa."

Bài thứ mười bốn.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →