buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.143

Kinh Thứ Nhất Về Nhân Vô Thường Ngoại Xứ

Bāhirāniccahetusutta — bài thứ mười

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ mười là bài kết phẩm, và nó chuyển bộ ba sang ngoại xứ — nhưng chỉ làm một bài, không phải ba.

Này các tỳ-kheo, các sắc là vô thường. Nhân nào, duyên nào cho sự sinh khởi của các sắc — thì nhân ấy, duyên ấy cũng là vô thường. Này các tỳ-kheo, cái gì do vô thường mà sinh ra, thì các sắc làm sao có thể thường được?

Rồi: các tiếng, các mùi, các vị, các vật chạm, các pháp — tất cả cùng một khuôn.

Điều đáng chú ý là phẩm này kết thúc bằng một bài vô thường, trong khi ba bài trước đó đã đi trọn bộ ba. Nghĩa là bộ ba khổ và vô ngã cho ngoại xứ không có trong phẩm này.

Và đó có lẽ không phải thiếu sót. Ba bài 144, 145 — ở phẩm sau — sẽ làm việc ấy. Bài 143 chỉ là cầu nối.

Nhưng nếu đọc bài 143 như bài kết phẩm, nó có một hiệu quả rất riêng: phẩm mở bằng không phóng dật (134), đi qua đảo ngược (136), qua không phải của bạn (138, 139), rồi kết bằng một công thức khô về nhân duyên vô thường.

Mười bài, và bài cuối cùng là bài lạnh nhất. Đó cũng là cách Tương Ưng hay kết phẩm: không bằng một cao trào, mà bằng một công thức.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Devadaha (Devadahavagga) — phẩm thứ mười bốn của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Thứ Nhất Về Nhân Vô Thường Ngoại Xứ (Bāhirāniccahetusutta) — bài thứ mười.


"Này các tỳ-kheo, các sắc là vô thường.

Nhân nào, duyên nào cho sự sinh khởi của các sắc — thì nhân ấy, duyên ấy cũng là vô thường.

Này các tỳ-kheo, cái gì do vô thường mà sinh ra, thì các sắc làm sao có thể thường được?

Các tiếng là vô thường; nhân và duyên của chúng cũng là vô thường.

Các mùi là vô thường; nhân và duyên của chúng cũng là vô thường.

Các vị là vô thường; nhân và duyên của chúng cũng là vô thường.

Các vật chạm là vô thường; nhân và duyên của chúng cũng là vô thường.

Các pháp là vô thường.

Nhân nào, duyên nào cho sự sinh khởi của các pháp — thì nhân ấy, duyên ấy cũng là vô thường.

Này các tỳ-kheo, cái gì do vô thường mà sinh ra, thì các pháp làm sao có thể thường được?

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các pháp. Cũng vậy với các tiếng, các mùi, các vị, các vật chạm.

'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa.' Vị ấy biết như vậy."

Bài thứ mười.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →