Tương Ưng Bộ · SN 35.136
Kinh Thứ Nhất Về Ưa Sắc
Paṭhamarūpārāmasutta — bài thứ ba
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ ba là một trong những bài quan trọng nhất của Tương Ưng Sáu Xứ, và nó dài nhất phẩm — năm mươi hai đoạn.
Mở đầu, một câu nói gọn cả một thế giới:
Này các tỳ-kheo, chư thiên và loài người đều lấy sắc làm vui, say đắm sắc, hoan hỷ sắc. Khi các sắc biến đổi, phai nhạt và chấm dứt, thì chư thiên và loài người sống trong khổ.
Ba chữ: ārāma — lấy làm vui, chỗ vui chơi; rata — say đắm; sammudita — hoan hỷ. Ba mức của cùng một việc, đi từ nông tới sâu.
Và câu ấy lặp lại sáu lần — một lần cho mỗi cảnh.
Rồi đến phần đối lập:
Nhưng này các tỳ-kheo, Như Lai sau khi đã biết như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các sắc, thì không lấy sắc làm vui. Khi các sắc biến đổi, phai nhạt và chấm dứt, thì Như Lai sống trong an lạc.
Năm cái được biết: samudaya, atthaṅgama, assāda, ādīnava, nissaraṇa — sinh khởi, chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly. Đó là năm cái nhìn mà kinh Pali gọi là cách hiểu trọn một cảnh.
Và rồi bài kệ — một trong những bài kệ hay nhất của cả bộ Tương Ưng:
Trong thế giới có cả chư thiên, / những thứ ấy được xem là an lạc. / Và chỗ mà chúng chấm dứt, / thì chỗ ấy họ xem là khổ. An lạc đã được các bậc thánh thấy, / ấy là sự chấm dứt của thân kiến; / và điều này trái ngược lại / với cách cả thế giới đang thấy.
Và câu chốt, câu mà tôi nghĩ là câu đáng nhớ nhất của cả phẩm:
Cái mà người khác nói là an lạc, / thì các bậc thánh nói là khổ; / cái mà người khác nói là khổ, / thì các bậc thánh — bậc trí — biết là an lạc.
Đó là một sự đảo ngược hoàn toàn, và kinh nói nó ra không một chút do dự.
Rồi bốn câu cuối, và chúng giải thích vì sao giáo lý này khó:
Hãy xem pháp này khó hiểu thay, / kẻ thiếu trí bối rối ở đây; / với người bị che kín, ấy là tối tăm. Ở ngay trước mắt mà họ không biết, / những kẻ không rành con đường của pháp.
Và lời kết rất lặng:
Ai ngoài các bậc thánh lại có thể chứng ngộ được bậc thánh ấy? / Và ai đã khéo biết bậc ấy, / thì nhập niết-bàn, không còn lậu hoặc.
Bài này là chỗ mà Tương Ưng Sáu Xứ nói thẳng nhất rằng: giáo lý này không hiển nhiên. Nó không phải một sự thật ai cũng thấy. Nó là một sự đảo ngược, và chỉ người đã đảo ngược mới thấy.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Devadaha (Devadahavagga) — phẩm thứ mười bốn của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Thứ Nhất Về Ưa Sắc (Paṭhamarūpārāmasutta) — bài thứ ba.
"Này các tỳ-kheo, chư thiên và loài người đều lấy sắc làm vui, say đắm sắc, hoan hỷ sắc.
Khi các sắc biến đổi, phai nhạt và chấm dứt, thì này các tỳ-kheo, chư thiên và loài người sống trong khổ.
Này các tỳ-kheo, chư thiên và loài người đều lấy tiếng làm vui, say đắm tiếng, hoan hỷ tiếng.
Khi các tiếng biến đổi, phai nhạt và chấm dứt, thì này các tỳ-kheo, chư thiên và loài người sống trong khổ.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, chư thiên và loài người đều lấy mùi làm vui, say đắm mùi, hoan hỷ mùi.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, chư thiên và loài người đều lấy vị làm vui, say đắm vị, hoan hỷ vị.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, chư thiên và loài người đều lấy vật chạm làm vui, say đắm vật chạm, hoan hỷ vật chạm.
Này các tỳ-kheo, chư thiên và loài người đều lấy pháp làm vui, say đắm pháp, hoan hỷ pháp.
Khi các pháp biến đổi, phai nhạt và chấm dứt, thì này các tỳ-kheo, chư thiên và loài người sống trong khổ.
Nhưng này các tỳ-kheo, Như Lai — bậc a-la-hán, bậc chánh đẳng giác — sau khi đã biết như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các sắc, thì không lấy sắc làm vui, không say đắm sắc, không hoan hỷ sắc.
Khi các sắc biến đổi, phai nhạt và chấm dứt, thì này các tỳ-kheo, Như Lai sống trong an lạc.
Đối với các tiếng, Ngài cũng đã biết như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly; nên không lấy tiếng làm vui, không say đắm tiếng, không hoan hỷ tiếng.
Đối với các mùi, Ngài cũng đã biết như thật; nên không lấy mùi làm vui, không say đắm mùi, không hoan hỷ mùi.
Đối với các vị, Ngài cũng đã biết như thật; nên không lấy vị làm vui, không say đắm vị, không hoan hỷ vị.
Đối với các vật chạm, Ngài cũng đã biết như thật; nên không lấy vật chạm làm vui, không say đắm vật chạm, không hoan hỷ vật chạm.
Này các tỳ-kheo, đối với các pháp, Như Lai — bậc a-la-hán, bậc chánh đẳng giác — sau khi đã biết như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly, thì không lấy pháp làm vui, không say đắm pháp, không hoan hỷ pháp.
Khi các pháp biến đổi, phai nhạt và chấm dứt, thì này các tỳ-kheo, Như Lai sống trong an lạc.
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Nói vậy xong, bậc Thiện Thệ lại nói thêm rằng:
Sắc, tiếng, vị, mùi,
vật chạm và pháp — tất cả;
những gì đáng ưa, dễ chịu, vừa lòng,
chừng nào còn được gọi là có mặt.
Trong thế giới có cả chư thiên,
những thứ ấy được xem là an lạc.
Và chỗ mà chúng chấm dứt,
thì chỗ ấy họ xem là khổ.
An lạc đã được các bậc thánh thấy,
ấy là sự chấm dứt của thân kiến;
và điều này trái ngược lại
với cách cả thế giới đang thấy.
Cái mà người khác nói là an lạc,
thì các bậc thánh nói là khổ;
cái mà người khác nói là khổ,
thì các bậc thánh — bậc trí — biết là an lạc.
Hãy xem pháp này khó hiểu thay,
kẻ thiếu trí bối rối ở đây;
với người bị che kín, ấy là tối tăm,
là bóng đêm cho kẻ không thấy.
Nhưng với bậc có trí thì nó mở ra,
như ánh sáng cho người đang thấy;
ở ngay trước mắt mà họ không biết,
những kẻ không rành con đường của pháp.
Bị tham ái trong hữu cuốn đi,
chạy theo tham ái trong hữu;
bị đặt dưới quyền lực của Ma,
thì pháp này không dễ gì mà hiểu được.
Ai ngoài các bậc thánh lại có thể
chứng ngộ được bậc thánh ấy?
Và ai đã khéo biết bậc ấy,
thì nhập niết-bàn, không còn lậu hoặc."
Bài thứ ba.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.