buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.98

Kinh Thu Thúc

Saṁvarasutta — bài thứ năm

4 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ năm là một bài ngắn, và nó là bản rút gọn của bài 96 — nhưng rút gọn theo một cách khác, và cách ấy đáng để ý.

Bài 96 hỏi: khi suy nghĩ xấu khởi lên, ngươi làm gì? Bài 98 hỏi: khi một sắc đáng ưa hiện ra, ngươi làm gì?

Và câu trả lời của bài 98 dùng ba động từ, không phải năm:

Nếu tỳ-kheo vui thích, hoan nghênh, bám vào và an trú nơi đó, thì vị ấy phải biết rằng: 'Ta đang tổn thất trong các thiện pháp.'

Ba động từ: abhinandati — vui thích; abhivadati — hoan nghênh, chào đón; ajjhosāya tiṭṭhati — bám vào mà đứng.

Và ba động từ ấy mô tả một tiến trình, không phải ba lựa chọn: trước hết thấy dễ chịu, rồi chào đón nó, rồi đứng yên trong đó. Đó là lúc sự tổn thất xảy ra — không phải ở bước một, mà ở bước ba.

Bản thu thúc thì đảo ngược: "không vui thích, không hoan nghênh, không bám vào".

Chữ saṁvara — thu thúc — ở đây không phải "đóng cửa". Nó là không đứng lại. Cửa vẫn mở; ngươi chỉ không dừng chân.

Đó là toàn bộ bài này, và cũng là toàn bộ chỗ khác nhau giữa bài 96 và bài 98: bài 96 làm việc với cái đã sinh; bài 98 làm việc với cái đang tới.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Saḷa (Saḷavagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Thu Thúc (Saṁvarasutta) — bài thứ năm.


"Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các vị về thu thúc và không thu thúc.

Hãy nghe cho kỹ.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là không thu thúc?

Này các tỳ-kheo, có những sắc được nhãn thức biết đến — đáng ưa, đáng thích, đáng vừa lòng, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, khơi gợi tham.

Nếu tỳ-kheo vui thích, hoan nghênh, bám vào và an trú nơi đó, thì này các tỳ-kheo, tỳ-kheo ấy phải biết rằng:

'Ta đang tổn thất trong các thiện pháp.

Vì đây được Đức Thế Tôn gọi là sự tổn thất. Cũng vậy với tai, mũi.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, với những vị được thiệt thức biết đến — đáng ưa, đáng thích, đáng vừa lòng, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, khơi gợi tham.

Này các tỳ-kheo, có những pháp được ý thức biết đến — đáng ưa, đáng thích, đáng vừa lòng, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, khơi gợi tham.

Nếu tỳ-kheo vui thích, hoan nghênh, bám vào và an trú nơi đó, thì này các tỳ-kheo, tỳ-kheo ấy phải biết rằng:

'Ta đang tổn thất trong các thiện pháp.

Vì đây được Đức Thế Tôn gọi là sự tổn thất.'

Này các tỳ-kheo, không thu thúc là như vậy.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là thu thúc?

Này các tỳ-kheo, có những sắc được nhãn thức biết đến — đáng ưa, đáng thích, đáng vừa lòng, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, khơi gợi tham.

Nếu tỳ-kheo không vui thích, không hoan nghênh, không bám vào và an trú nơi đó, thì này các tỳ-kheo, tỳ-kheo ấy phải biết rằng:

'Ta không tổn thất trong các thiện pháp.

Vì đây được Đức Thế Tôn gọi là không tổn thất. Cũng vậy với tai, mũi.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, với những vị được thiệt thức biết đến — đáng ưa, đáng thích, đáng vừa lòng, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, khơi gợi tham.

Này các tỳ-kheo, có những pháp được ý thức biết đến — đáng ưa, đáng thích, đáng vừa lòng, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, khơi gợi tham.

Nếu tỳ-kheo không vui thích, không hoan nghênh, không bám vào và an trú nơi đó, thì này các tỳ-kheo, tỳ-kheo ấy phải biết rằng:

'Ta không tổn thất trong các thiện pháp.

Vì đây được Đức Thế Tôn gọi là không tổn thất.'

Này các tỳ-kheo, thu thúc là như vậy."

Bài thứ năm.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →