Tương Ưng Bộ · SN 12.3
Kinh Thực Hành
Paṭipadāsutta — bài thứ ba
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Thực Hành (Paṭipadāsutta) đổi tên cho cùng một chuỗi, và cái tên mới ấy là cả một cách nhìn.
Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các ông về tà thực hành và chánh thực hành.
Tà thực hành là gì? Chính là chuỗi quen thuộc, chạy xuôi:
Vô minh duyên hành; hành duyên thức; cho đến sinh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não — toàn bộ khối khổ sinh khởi. Đó gọi là tà thực hành.
Chánh thực hành là gì? Chính là chuỗi ấy, chạy ngược:
Do sự ly tham và chấm dứt vô minh không còn dư tàn, hành chấm dứt; cho đến sinh chấm dứt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt — toàn bộ khối khổ chấm dứt. Đó gọi là chánh thực hành.
Điều đáng dừng lại: duyên khởi không chỉ là một mô tả về thế giới — nó là một mô tả về cách mình đang sống. Hai chiều của chuỗi ấy không phải hai sự thật trừu tượng; chúng là hai cách đi qua một ngày.
Và "tà" ở đây không có nghĩa luân lý. Nó có nghĩa đi sai hướng: cái gì nuôi chuỗi sinh khởi thì là tà đạo, cái gì để nó lắng xuống thì là chánh đạo.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.
Phẩm Đức Phật (Buddhavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Nhân Duyên.
Kinh Thực Hành (Paṭipadāsutta) — bài thứ ba.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
"Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các ông về tà thực hành và chánh thực hành.
Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói."
"Vâng, bạch Thế Tôn", các tỳ-kheo ấy đáp lời Ngài.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
"Này các tỳ-kheo, thế nào là tà thực hành?
Vô minh duyên hành;
hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sinh; sinh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi.
Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khối khổ này.
Này các tỳ-kheo, đó được gọi là tà thực hành.
Này các tỳ-kheo, thế nào là chánh thực hành?
Do sự ly tham và chấm dứt vô minh không còn dư tàn, hành chấm dứt;
hành chấm dứt nên thức chấm dứt; thức chấm dứt nên danh sắc chấm dứt; danh sắc chấm dứt nên sáu xứ chấm dứt; sáu xứ chấm dứt nên xúc chấm dứt; xúc chấm dứt nên thọ chấm dứt; thọ chấm dứt nên ái chấm dứt; ái chấm dứt nên thủ chấm dứt; thủ chấm dứt nên hữu chấm dứt; hữu chấm dứt nên sinh chấm dứt; sinh chấm dứt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt.
Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này.
Này các tỳ-kheo, đó được gọi là chánh thực hành."
Kinh Thực Hành, bài thứ ba, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.