Tương Ưng Bộ · SN 12.18
Kinh Timbaruka
Timbarukasutta — bài thứ tám
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Timbaruka (Timbarukasutta) là bài 12.17 đổi một chữ — và chính chữ ấy làm nên khác biệt.
Bài trước, du sĩ lõa thể Kassapa hỏi về khổ. Bài này, du sĩ Timbaruka hỏi về lạc và khổ — cặp đôi, không phải một.
Lạc và khổ do tự mình tạo ra? — Không phải vậy. Do người khác tạo ra? — Không phải vậy. Do cả hai? — Không phải vậy. Sinh ra ngẫu nhiên? — Không phải vậy. Vậy là không có lạc và khổ? — Không phải là không có. Lạc và khổ ấy có thật.
Và câu trả lời cũng đổi một chữ. Bài trước: "chính người làm là người chịu quả" — thường kiến. Bài này:
Nếu nói "cảm thọ và người cảm thọ là một", thì từ ban đầu đã cho rằng lạc và khổ do tự mình tạo — thường kiến. Nếu nói "cảm thọ là một, người cảm thọ là khác", thì cho rằng lạc và khổ do người khác tạo — đoạn kiến.
Đó là một bước tiến rất lớn về độ chính xác. Ở bài trước, vấn đề là người làm và người chịu. Ở bài này, vấn đề được đẩy lùi thêm một lớp: cái đang được cảm và cái đang cảm — có phải là một không? Có phải là hai không?
Và câu trả lời vẫn vậy: cả hai đều là những cách dựng lên một cái gì đó để nắm. Chỉ có chuỗi điều kiện đang chạy.
Một khác biệt nữa ở cuối bài: ông Timbaruka không xin xuất gia. Ông xin làm cư sĩ tại gia — và bài giữ nguyên lời ấy, không thêm gì. Cùng một câu trả lời, hai người, hai lối vào.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.
Phẩm Thức Ăn (Āhāravagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Nhân Duyên.
Kinh Timbaruka (Timbarukasutta) — bài thứ tám.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
Rồi du sĩ Timbaruka đi đến chỗ Đức Thế Tôn và chào hỏi Ngài.
Sau khi chào hỏi thăm hỏi thân thiện, ông ta ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Timbaruka nói với Đức Thế Tôn:
"Thưa Tôn giả Gotama, có phải lạc và khổ do tự mình tạo ra?"
Đức Thế Tôn đáp: "Không phải vậy, này Timbaruka."
"Vậy có phải lạc và khổ do người khác tạo ra?"
Đức Thế Tôn đáp: "Không phải vậy, này Timbaruka."
"Vậy có phải lạc và khổ do cả tự mình và người khác tạo ra?"
Đức Thế Tôn đáp: "Không phải vậy, này Timbaruka."
"Vậy có phải lạc và khổ sinh ra ngẫu nhiên, không do tự mình cũng không do người khác tạo ra?"
Đức Thế Tôn đáp: "Không phải vậy, này Timbaruka."
"Vậy có phải là không có lạc và khổ?"
"Này Timbaruka, không phải là không có lạc và khổ.
Lạc và khổ ấy có thật."
"Vậy thì Tôn giả Gotama không biết lạc và khổ, không thấy lạc và khổ."
"Này Timbaruka, không phải Ta không biết lạc và khổ, không thấy lạc và khổ.
Này Timbaruka, Ta biết lạc và khổ;
này Timbaruka, Ta thấy lạc và khổ."
"Thưa Tôn giả Gotama, khi được hỏi 'lạc và khổ do tự mình tạo ra?', Ngài đáp 'không phải vậy'.
Khi được hỏi 'do người khác tạo ra?', Ngài đáp 'không phải vậy'.
Khi được hỏi 'do cả tự mình và người khác tạo ra?', Ngài đáp 'không phải vậy'.
Khi được hỏi 'sinh ra ngẫu nhiên, không do tự mình cũng không do người khác tạo ra?', Ngài đáp 'không phải vậy'.
Nhưng Ngài lại nói rằng lạc và khổ ấy có thật.
Khi được hỏi 'vậy có phải là không có lạc và khổ?', Ngài đáp 'không phải là không có; lạc và khổ ấy có thật'.
Và khi được hỏi 'vậy thì Ngài không biết, không thấy lạc và khổ?', Ngài đáp 'không phải Ta không biết, không thấy'.
Nhưng Ngài lại nói rằng Ngài biết lạc và khổ,
và Ngài thấy lạc và khổ.
Xin Tôn giả Gotama giảng cho con về lạc và khổ.
Xin Tôn giả Gotama dạy cho con về lạc và khổ."
"Này Timbaruka, nếu nói 'cảm thọ và người cảm thọ là một', thì từ ban đầu đã cho rằng 'lạc và khổ do tự mình tạo ra' — như vậy là đi đến thường kiến. Ta không nói như vậy.
Này Timbaruka, nếu nói 'cảm thọ là một, người cảm thọ là khác', thì đối với người đang bị cảm thọ bức bách, cho rằng 'lạc và khổ do người khác tạo ra' — như vậy là đi đến đoạn kiến. Ta không nói như vậy.
Này Timbaruka, không đi theo cả hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường giữa:
'Vô minh duyên hành;
hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sinh; sinh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi.
Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khối khổ này.
Do sự ly tham và chấm dứt vô minh không còn dư tàn, hành chấm dứt;
hành chấm dứt nên thức chấm dứt; thức chấm dứt nên danh sắc chấm dứt; danh sắc chấm dứt nên sáu xứ chấm dứt; sáu xứ chấm dứt nên xúc chấm dứt; xúc chấm dứt nên thọ chấm dứt; thọ chấm dứt nên ái chấm dứt; ái chấm dứt nên thủ chấm dứt; thủ chấm dứt nên hữu chấm dứt; hữu chấm dứt nên sinh chấm dứt; sinh chấm dứt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt.
Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này.'"
Khi nghe vậy, du sĩ Timbaruka nói với Đức Thế Tôn:
"Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Ví như có người dựng lại cái đã bị lật, mở ra cái đã bị che, chỉ đường cho người lạc lối, thắp đèn trong đêm tối để người có mắt nhìn thấy hình sắc — cũng vậy, Tôn giả Gotama đã làm sáng tỏ pháp bằng nhiều cách.
Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y pháp và quy y tỳ-kheo tăng.
Xin Tôn giả Gotama nhận con làm cư sĩ tại gia, từ hôm nay cho đến trọn đời, con xin nương tựa."
Kinh Timbaruka, bài thứ tám, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.