buppou

Tương Ưng Bộ · SN 36.11

Kinh Tĩnh Cư

Rahogatasutta — bài thứ mười một

6 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ mười một mở đầu phẩm thứ hai, và nó là một trong những bài sâu nhất của cả bộ — vì nó xử lý một mâu thuẫn.

Một tỳ-kheo ở một mình, trong tĩnh cư, và nghĩ:

Ba thọ được Đức Thế Tôn nói tới: thọ lạc, thọ khổ, thọ không khổ không lạc. Và Đức Thế Tôn đã nói điều này: "Bất cứ cái gì được cảm thọ, cái ấy thuộc về khổ". Vậy câu ấy nhắm tới điều gì?

Mâu thuẫn rất rõ: nếu có ba thọ, và thọ lạc là một trong ba, thì làm sao mọi thọ đều là khổ?

Câu trả lời của Đức Thế Tôn không phải là phủ nhận một trong hai:

Điều ấy Ta đã nói nhắm tới chính sự vô thường của các hành.

Saṅkhārānaṁyeva aniccataṁ sandhāya — nhắm tới tính vô thường của các hành. Và rồi Ngài liệt kê năm cách:

vô thường (aniccatā), pháp hoại diệt (khayadhammatā), pháp tan rã (vayadhammatā), pháp ly tham (virāgadhammatā), pháp chấm dứt (nirodhadhammatā), pháp biến đổi (vipariṇāmadhammatā).

Sáu tính từ, cùng một sự thật. Lạc là khổ không phải vì lạc đau, mà vì lạc không đứng yên.

Nhưng bài này không dừng ở đó. Nó đi tiếp vào một lãnh vực hoàn toàn khác — và đây là chỗ khó nhất của bài:

Sự chấm dứt tuần tự của các hành đã được Ta nói tới. Với người nhập thiền thứ nhất, lời nói đã chấm dứt. Với người nhập thiền thứ hai, tầm và tứ đã chấm dứt. Thiền thứ ba: hỷ. Thiền thứ tư: hơi thở vào ra. Không vô biên xứ: tưởng về sắc. Thức vô biên xứ: tưởng về không vô biên xứ. Vô sở hữu xứ: tưởng về thức vô biên xứ. Phi tưởng phi phi tưởng xứ: tưởng về vô sở hữu xứ. Diệt tưởng thọ: tưởng và thọ. Tỳ-kheo đã tận lậu hoặc: tham, sân, si.

Đó là một bảng rất lạ. Nó ghép hai thứ không cùng loại: các tầng thiền và các lậu hoặc. Và nó nói cả hai đều là sự chấm dứt.

Rồi Ngài lặp lại bảng ấy ba lần, với ba động từ khác nhau: niruddhā (đã chấm dứt), vūpasantā (đã lắng xuống), paṭippassaddhā (đã được an tịnh).

Ba lần, cùng một bảng. Và lần thứ ba có một cái tên: chayimā passaddhiyo — sáu sự an tịnh.

Đó là cấu trúc của bài này: một mâu thuẫn được giải, rồi một bảng được đọc ba lần với ba động từ. Cách đọc ấy không phải để nhấn mạnh. Nó là để cho thấy ba cái nhìn vào cùng một sự kiện: cái gì chấm dứt, cái gì lắng xuống, cái gì được an tịnh.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Thọ (Vedanāsaṃyutta), tương ưng thứ 36.

Phẩm Tĩnh Cư (Rahogatavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Thọ.

Kinh Tĩnh Cư (Rahogatasutta) — bài thứ mười một.


"Rồi một tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn rằng:

Bạch Thế Tôn, khi con ở một mình, ở nơi tĩnh cư, ý nghĩ này khởi lên nơi con:

Ba thọ được Đức Thế Tôn nói tới.

Thọ lạc, thọ khổ, thọ không khổ không lạc —

ba thọ ấy được Đức Thế Tôn nói tới.

Và Đức Thế Tôn đã nói điều này:

Bất cứ cái gì được cảm thọ, cái ấy thuộc về khổ.

Vậy Đức Thế Tôn đã nói câu ấy nhắm tới điều gì:

Bất cứ cái gì được cảm thọ, cái ấy thuộc về khổ?

Lành thay, lành thay, này tỳ-kheo.

Này tỳ-kheo, ba thọ này đã được Ta nói tới.

Thọ lạc, thọ khổ, thọ không khổ không lạc —

ba thọ ấy đã được Ta nói tới.

Và này tỳ-kheo, Ta đã nói điều này:

Bất cứ cái gì được cảm thọ, cái ấy thuộc về khổ.

Này tỳ-kheo, điều ấy Ta đã nói nhắm tới chính sự vô thường của các hành:

Bất cứ cái gì được cảm thọ, cái ấy thuộc về khổ.

Này tỳ-kheo, điều ấy Ta đã nói nhắm tới chính pháp hoại diệt của các hành.

nhắm tới pháp tan rã.

nhắm tới pháp ly tham.

nhắm tới pháp chấm dứt.

nhắm tới pháp biến đổi — Ta đã nói như vậy:

Bất cứ cái gì được cảm thọ, cái ấy thuộc về khổ.

Và này tỳ-kheo, sự chấm dứt tuần tự của các hành đã được Ta nói tới.

Với người nhập thiền thứ nhất, lời nói đã chấm dứt.

Với người nhập thiền thứ hai, tầm và tứ đã chấm dứt.

Với người nhập thiền thứ ba, hỷ đã chấm dứt.

Với người nhập thiền thứ tư, hơi thở vào ra đã chấm dứt.

Với người nhập không vô biên xứ, tưởng về sắc đã chấm dứt.

Với người nhập thức vô biên xứ, tưởng về không vô biên xứ đã chấm dứt.

Với người nhập vô sở hữu xứ, tưởng về thức vô biên xứ đã chấm dứt.

Với người nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ, tưởng về vô sở hữu xứ đã chấm dứt.

Với người nhập diệt tưởng thọ, tưởng và thọ đã chấm dứt.

Với tỳ-kheo đã tận lậu hoặc, tham đã chấm dứt, sân đã chấm dứt, si đã chấm dứt.

Và này tỳ-kheo, sự lắng xuống tuần tự của các hành đã được Ta nói tới.

Với người nhập thiền thứ nhất, lời nói đã lắng xuống.

Với người nhập thiền thứ hai, tầm và tứ đã lắng xuống.

Với người nhập diệt tưởng thọ, tưởng và thọ đã lắng xuống.

Với tỳ-kheo đã tận lậu hoặc, tham đã lắng xuống, sân đã lắng xuống, si đã lắng xuống.

Này tỳ-kheo, có sáu sự an tịnh này.

Với người nhập thiền thứ nhất, lời nói đã được an tịnh.

Với người nhập thiền thứ hai, tầm và tứ đã được an tịnh.

Với người nhập thiền thứ ba, hỷ đã được an tịnh.

Với người nhập thiền thứ tư, hơi thở vào ra đã được an tịnh.

Với người nhập diệt tưởng thọ, tưởng và thọ đã được an tịnh.

Với tỳ-kheo đã tận lậu hoặc, tham đã được an tịnh, sân đã được an tịnh, si đã được an tịnh."

Bài thứ nhất.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →