buppou

Tương Ưng Bộ · SN 56.2

Kinh Tĩnh Lặng Một Mình

Paṭisallānasutta — bài kinh về sự lui về chỗ vắng

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Tĩnh Lặng Một Mình (Paṭisallānasutta) là bài thứ hai của Tương Ưng Tứ Đế, và là bài thứ hai liên tiếp nói về điều kiện để thấy bốn sự thật. Bài trước chọn "định", bài này chọn paṭisallāna — lui về một mình, rời khỏi đám đông và tiếng ồn để ngồi yên.

Chữ ấy không chỉ về chỗ ngồi. Trong kinh tạng, paṭisallāna là động từ chỉ việc rút lui có chủ ý: sau khi đi khất thực, vị tỳ-kheo lui về chỗ vắng, ngồi xuống, và bắt đầu nhìn vào tâm mình. Nói cách khác, đó là điều kiện bên ngoài của một việc bên trong — không phải để trốn người, mà để thôi bị người làm xao động.

Hai bài liền nhau, cùng một công thức, chỉ đổi một chữ ở câu mở. Đọc kỹ thì thấy chúng bổ sung nhau: định là trạng thái của tâm, tĩnh lặng là cách sống tạo ra trạng thái ấy. Không có bài nào dạy đi tìm một chỗ yên tĩnh rồi ngồi đó cho xong việc.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Tứ Đế (Saccasaṃyutta), tương ưng thứ 56.

Phẩm Định (Samādhivagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Tứ Đế.

Kinh Tĩnh Lặng Một Mình (Paṭisallānasutta) — bài thứ hai.


"Này các tỳ-kheo, hãy chuyên tâm vào sự lui về chỗ vắng.

Vị tỳ-kheo lui về chỗ vắng thì biết như thật.

Biết như thật điều gì?

Vị ấy biết như thật: 'Đây là khổ'; biết như thật: 'Đây là nguồn gốc của khổ'; biết như thật: 'Đây là sự chấm dứt của khổ'; biết như thật: 'Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ'.

Này các tỳ-kheo, hãy chuyên tâm vào sự lui về chỗ vắng.

Vị tỳ-kheo lui về chỗ vắng thì biết như thật.

Vậy nên, này các tỳ-kheo, hãy nỗ lực để biết như thật: 'Đây là khổ'; hãy nỗ lực để biết như thật: 'Đây là nguồn gốc của khổ'; hãy nỗ lực để biết như thật: 'Đây là sự chấm dứt của khổ'; hãy nỗ lực để biết như thật: 'Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ'."

Kinh Tĩnh Lặng Một Mình, bài thứ hai, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →