Tương Ưng Bộ · SN 21.005
Kinh Tôn Giả Sujāta
Sujātasutta — bài thứ năm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ năm mở đầu bằng một cảnh rất đẹp và rất ngắn.
Vị tỳ-kheo này thật đẹp, với tâm ngay thẳng.
Tôn giả Sujāta đi đến chỗ Đức Thế Tôn, và Đức Thế Tôn thấy ngài từ đằng xa. Rồi Ngài nói với các tỳ-kheo rằng người con trai của gia đình này đẹp đẽ cả hai phương diện.
Hai phương diện ấy là gì thì kinh nói rõ: vừa đẹp trai, dễ nhìn, khả ái, có được vẻ ngoài tươi đẹp tối thượng; vừa vì mục đích ấy mà những người con trai của gia đình đã đúng đắn xuất gia từ nhà ra không nhà.
Bài kệ đi kèm cũng theo đúng cấu trúc ấy. Hai câu đầu nói về sắc tướng, hai câu giữa nói về tâm giải thoát, hai câu cuối quay lại cùng một công thức quen thuộc: vị ấy mang thân xác cuối cùng, đã thắng ác ma và cả đoàn tùy tùng của nó.
Điều đáng để ý là bộ kinh này, vốn rất ít khi nói về ngoại hình, lại có đến hai bài trong mười hai bài dành cho chủ đề ấy — bài này và bài thứ sáu. Và cả hai đều đặt ngoại hình cạnh một điều khác, không bao giờ đứng một mình.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Tỳ-Kheo (Bhikkhusaṃyutta), tương ưng thứ 21.
Phẩm Tỳ-Kheo (Bhikkhuvagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Tỳ-Kheo.
Kinh Tôn Giả Sujāta (Sujātasutta) — bài thứ năm.
"Tại Sāvatthī.
Rồi Tôn giả Sujāta đi đến chỗ Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn thấy Tôn giả Sujāta từ đằng xa đang đi đến.
Đã thấy rồi, Ngài gọi các tỳ-kheo lại:
Này các tỳ-kheo, người con trai của gia đình này đẹp đẽ cả hai phương diện —
vừa đẹp trai, dễ nhìn, khả ái, có được vẻ ngoài tươi đẹp tối thượng, vừa vì mục đích ấy mà những người con trai của gia đình đã đúng đắn xuất gia từ nhà ra không nhà.
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ lại nói thêm bậc Đạo sư:
Vị tỳ-kheo này thật đẹp,
với tâm ngay thẳng;
đã lìa, đã thoát khỏi,
đã tịch diệt không còn chấp thủ;
vị ấy mang thân xác cuối cùng,
đã thắng ác ma và cả đoàn tùy tùng của nó."
Bài thứ năm.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.