Tương Ưng Bộ · SN 45.12
Kinh Trú Xứ (II)
Dutiyavihārasutta — bài thứ mười hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Trú Xứ (II) (Dutiyavihārasutta) là bản đầy đủ hơn của bài trước — cùng một bối cảnh, cùng một lời báo cáo, nhưng ba tháng thay vì nửa tháng, và có thêm một cặp chữ quan trọng.
Bài trước nói: "Do duyên tà kiến mà có điều được cảm nhận; do duyên chánh kiến mà có điều được cảm nhận."
Bài này nói thêm: "Do duyên sự lắng xuống của tà kiến mà có điều được cảm nhận; do duyên sự lắng xuống của chánh kiến mà có điều được cảm nhận."
Chỗ này rất tinh tế, và nó là lý do bài kinh đáng đọc chậm: chánh kiến cũng là một điều kiện của cảm thọ — và khi chánh kiến lắng xuống, cái đó cũng là một điều kiện nữa.
Nghĩa là không có chỗ dừng ở "có cái nhìn đúng". Cái nhìn đúng cũng là một thứ được sinh ra, được nuôi dưỡng, và rồi được buông. Bậc đã giác ngộ vẫn thấy rõ từng lớp điều kiện ấy khi nó đến và đi — không phải để chọn lớp nào, mà để biết lớp nào cũng là điều kiện.
Nếu chỉ đọc một trong hai bài, hãy đọc bài này. Bài trước là bản ngắn của nó.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 45.
Phẩm Trú Xứ (Vihāravagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Đạo.
Kinh Trú Xứ (II) (Dutiyavihārasutta) — bài thứ mười hai.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ).
"Này các tỳ-kheo, ta muốn ẩn cư ba tháng.
Không ai được đến gặp ta, trừ một người mang cơm đến."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn", các tỳ-kheo nhận lời Đức Thế Tôn. Và quả thật không ai đến gặp Đức Thế Tôn, trừ một người mang cơm đến.
Rồi sau khi ba tháng ấy qua đi, Đức Thế Tôn xuất khỏi ẩn cư và gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo, ta đã ở trong trú xứ mà ta đã trú khi vừa mới chứng giác ngộ trọn vẹn — ở một phần của trú xứ ấy.
Và ta hiểu như vầy:
'Do duyên tà kiến mà có điều được cảm nhận;
do duyên sự lắng xuống của tà kiến mà có điều được cảm nhận;
do duyên chánh kiến mà có điều được cảm nhận;
do duyên sự lắng xuống của chánh kiến mà có điều được cảm nhận; do duyên tà tư duy mà có điều được cảm nhận; do duyên sự lắng xuống của tà tư duy mà có điều được cảm nhận; do duyên chánh tư duy mà có điều được cảm nhận; do duyên sự lắng xuống của chánh tư duy mà có điều được cảm nhận; do duyên tà ngữ mà có điều được cảm nhận; do duyên sự lắng xuống của tà ngữ mà có điều được cảm nhận; do duyên chánh ngữ mà có điều được cảm nhận; do duyên sự lắng xuống của chánh ngữ mà có điều được cảm nhận; do duyên tà nghiệp mà có điều được cảm nhận; do duyên sự lắng xuống của tà nghiệp mà có điều được cảm nhận; do duyên chánh nghiệp mà có điều được cảm nhận; do duyên sự lắng xuống của chánh nghiệp mà có điều được cảm nhận; do duyên tà mạng mà có điều được cảm nhận; do duyên sự lắng xuống của tà mạng mà có điều được cảm nhận; do duyên chánh mạng mà có điều được cảm nhận; do duyên sự lắng xuống của chánh mạng mà có điều được cảm nhận; do duyên tà tinh tấn mà có điều được cảm nhận; do duyên sự lắng xuống của tà tinh tấn mà có điều được cảm nhận; do duyên chánh tinh tấn mà có điều được cảm nhận; do duyên sự lắng xuống của chánh tinh tấn mà có điều được cảm nhận; do duyên tà niệm mà có điều được cảm nhận; do duyên sự lắng xuống của tà niệm mà có điều được cảm nhận; do duyên chánh niệm mà có điều được cảm nhận; do duyên sự lắng xuống của chánh niệm mà có điều được cảm nhận;
do duyên tà định mà có điều được cảm nhận;
do duyên sự lắng xuống của tà định mà có điều được cảm nhận; do duyên chánh định mà có điều được cảm nhận;
do duyên sự lắng xuống của chánh định mà có điều được cảm nhận;
do duyên ý muốn mà có điều được cảm nhận;
do duyên sự lắng xuống của ý muốn mà có điều được cảm nhận;
do duyên tầm mà có điều được cảm nhận;
do duyên sự lắng xuống của tầm mà có điều được cảm nhận;
do duyên tưởng mà có điều được cảm nhận;
do duyên sự lắng xuống của tưởng mà có điều được cảm nhận;
khi ý muốn chưa lắng xuống, tầm chưa lắng xuống, tưởng chưa lắng xuống — thì do đó mà có điều được cảm nhận;
khi ý muốn đã lắng xuống, tầm đã lắng xuống, tưởng đã lắng xuống — thì do đó mà có điều được cảm nhận;
để đạt đến điều chưa đạt, có sự nỗ lực; và khi chỗ ấy vẫn chưa đạt được, thì do đó mà có điều được cảm nhận.'
Kinh Trú Xứ (II), bài thứ mười hai, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.